Cuối năm 2006 địa bàn tỉnh An Giang mới thu gom 20% số rác thải, bảy tháng đầu năm 2007, tỉnh tiếp tục tổ chức triển khai và nhân rộng các mô hình xã hội hóa thu gom rác thải. Kết quả nhân rộng thêm TP Long Xuyên (ấp Tây Khánh 1 và Tây Khánh 3 thuộc phường Mỹ Hòa), huyện Tri Tôn (thị trấn Ba Chúc), huyện An Phú (xã Quốc Thái) khoảng 1.600 hộ tham gia; huyện Châu Thành đến nay trừ xã Vĩnh An, các xã còn lại đều đã tổ chức thu gom tập trung tại các khu dân cư và khu chợ.
Tuy nhiên vấn đề khó khăn hiện nay là không có bãi chứa rác, do vậy vấn đề xử lý rác sau khi thu gom gặp rất nhiều khó khăn. Hai huyện Thoại Sơn và Châu Phú có 1.328 hộ tham gia mô hình xã hội hóa thu gom rác thải, đồng thời chỉ đạo các xã nhân rộng mô hình này tùy vào điều kiện và thực tế, riêng Châu Phú trước mắt trong năm 2007 sẽ tổ chức nhân rộng mô hình tại địa bàn xã Bình Thủy với khoảng 500 hộ tham gia. Huyện Phú Tân cũng đã hoàn chỉnh đề án xã hội hóa công tác thu gom rác thải ở khu dân cư và các chợ trên địa bàn huyện, xây dựng lộ trình triển khai và nhân rộng mô hình xã hội hóa thu gom rác thải tại tất cả các xã đến năm 2010; huyện Tân Châu xây dựng đề án mô hình xã hội hóa thu gom rác thải ở xã Vĩnh Hòa, dự kiến khoảng 1.542 hộ tham gia. Nhờ vậy, bảy tháng đầu năm 2007, tỉnh nâng tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt thêm 11%.
Việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu (gần 70% chưa được thu gom xử lý). Ðây là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, vệ sinh đô thị, nông thôn và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan và sức khỏe cộng đồng. Sở dĩ công tác quản lý thu gom rác thải chưa đáp ứng là do ý thức của người dân trong giữ gìn vệ sinh môi trường còn chưa cao, hiện tượng đổ rác bừa bãi còn phổ biến. Rác thải sinh hoạt đổ ra đường, nơi công cộng, xuống sông, kinh, rạch gây ô nhiễm; Do mạng lưới thu gom chưa phủ kín được địa bàn quản lý, lượng rác thu gom chủ yếu là do Ban Công trình công cộng (CTCC) thực hiện, chỉ tiến hành thu gom ở những địa bàn giao thông thuận lợi (xe cơ giới đến được) dọc các tuyến quốc lộ và chợ; đối với những tuyến đường tuy giao thông thuận lợi nhưng dân không sống tập trung, cách xa địa điểm bãi chứa rác của huyện thì việc tổ chức thu gom gặp khó khăn về kinh phí tổ chức; nhất là ở các xã vùng nông thôn xa, điều kiện xe cơ giới của Ban CTCC không thể vào thu gom rác tận nơi.
Các bãi rác tập trung của các huyện phần lớn đã gần đầy và vận hành chưa đúng quy trình, nên ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân trong khu vực. Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn, sau đó được vận chuyển đến bãi chôn lấp. Việc xử lý chất thải cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là đổ ở các bãi rác lộ thiên, không có sự kiểm soát, mùi xú uế và nước bẩn là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước và không khí. Chính sách hỗ trợ kêu gọi xã hội hóa đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải chưa hấp dẫn cho nên chưa có nhà đầu tư nào tham gia.
Sắp tới Sở Tài nguyên và Môi trường cùng TP Long Xuyên tiếp tục kêu gọi nhà đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác theo Ðề án được UBND tỉnh phê duyệt. Triển khai thực hiện mô hình xử lý rác bằng chế phẩm Enzym Plus và P2 tại xã An Hảo, huyện Tịnh Biên; Tổ chức đấu thầu hệ thống xử lý nước thải bãi rác Châu Ðốc; Xây dựng quy chế bảo vệ môi trường nơi công cộng, cụm, tuyến dân cư. UBND tỉnh phê duyệt Ðề án xóa hơn 19 nghìn nhà xây dựng trái phép trên sông, kênh, rạch (đến năm 2010). Bãi rác thị xã Châu Ðốc đi vào hoạt động từ năm 2000, tổng diện tích mặt bằng 2,2 ha, với lượng rác thải tiếp nhận trung bình vào khoảng 40 tấn/ngày, hiện sức chứa của bãi rác chỉ còn 20%. Trong quá trình thực hiện xử lý ô nhiễm môi trường, đơn vị đã thực hiện các nội dung trọng điểm: Dành một phần diện tích (3,5% tổng diện tích mặt bằng) xây dựng hồ xử lý sinh học và trồng cây xanh dọc theo bờ bao khép kín quanh khu vực bãi rác, nước bẩn được dẫn vào hồ sinh học xử lý (không để thoát trực tiếp ra ngoài môi trường nước), đồng thời phun xịt thuốc diệt ruồi hai lần/tuần, rải vôi bột và xịt EM để giảm mùi hôi và ruồi. Hoạt động của bãi rác chỉ mang tính chất tạm thời chờ di dời về địa điểm mới tại địa phận xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, dự kiến bãi rác mới này sẽ đưa
vào hoạt động trong năm 2008, đơn vị đang thực hiện thủ tục ra khỏi danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo nội dung Quyết định số 10/2006/QÐ-TNMT ngày 21-8-2006 của Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường.
Bãi rác thành phố Long Xuyên được thiết kế với bốn hồ chứa rác và có hai hồ lắng sinh học. Tuy nhiên, do khối lượng rác quá lớn cho nên nước thải từ bãi rác vẫn còn gây ô nhiễm cao. Hướng xử lý ô nhiễm triệt để của đơn vị là sẽ đầu tư nhà máy xử lý rác; đồng thời UBND tỉnh ban hành Quyết định phê duyệt đề án kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt, tuy nhiên đến nay vẫn chưa chọn được đơn vị đầu tư.
Khó khăn vướng mắc trong việc triển khai và nhân rộng mô hình thu gom rác thải tại các xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện xe thu gom của Ban CTCC không đến được là cần giải quyết được nơi để chứa và xử lý rác tập trung. Tuy nhiên điều kiện thực tế không thể mỗi xã đều đầu tư bãi rác, vì như vậy vừa tốn kinh phí đầu tư và diện tích đất. Giải pháp hữu hiệu là các huyện cần có quy hoạch và kế hoạch đầu tư phân kỳ theo năm ngân sách để đầu tư bãi rác cho cụm xã (các xã liền kề), Sở Xây dựng cần hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn theo Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18-1-2001. Tỉnh cần xem xét, có chính sách hỗ trợ đầu tư cho tổ chức xã hội hóa thu gom xử lý rác đối với những địa bàn khó khăn. Có vậy mới huy động được mọi thành phần và nguồn lực tham gia công tác này. Về lâu dài cần tính đến phương án tái chế, tái sử dụng rác thải thay cho giải pháp chôn lấp, nhằm tiết kiệm tài nguyên, hiệu quả kinh tế và bảo đảm vệ sinh môi trường.