Hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

Thăng Long trong thơ ca, tục ngữ

Cảm hứng lớn của các nhà thơ khi viết về Hà Nội là cảm hứng lịch sử, là sự gắn bó với độc lập dân tộc, với vận mệnh đất nước. Có lẽ không mấy ai không thuộc bài "Tụng giá hoàn kinh sư" của Trần Quang Khải và mang nó trong mình như một lời thề giữ nước:

Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu.

Vào đầu thế kỷ 19, sau những loạn ly, mừng vui lớn nhất của Nguyễn Du là "Bạc đầu còn được thấy Thăng Long"; Một thời gian sau nghe tin giặc Pháp chiếm phá Thành Hà Nội, Ðào Tấn đã phẫn uất đến máu lệ tuôn trào "Giặc Tây cậy có súng thần công, Lấn đất đai ta hận vô cùng, Hà Nội một mai đầy khói lửa, Ta đầm máu lệ áo hoen hồng". Nhưng cũng xao xác làm sao và cũng như vang lên một lời thề quyết giữ Hà Nội khi người ta lãng mạn "Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" (Quang Dũng) và ngay cả khi người ta buồn "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo" (Bà Huyện Thanh Quan), "Ðêm Hà Nội buốt tê, Mái buồn nghe sấu rụng" (Chính Hữu).

Có cái gì mà Hà Nội, mà Việt Nam khác với người khác nữa? Vì sao mà chúng ta dễ hội nhập, dễ khép lại quá khứ buồn, dễ làm bạn với các nước? Hà Nội ngày nay được thế giới công nhận là Thành phố vì hòa bình, sâu xa ra do lòng nhân ái, sự bao dung tích tụ nghìn đời. Giặc Minh từng "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ" nhưng khi thắng, ta vẫn cấp thuyền lương cho về nước. Lý Thế Dân, ông vua được coi là vua hùng, vua sáng của triều Ðường, vì ngôi báu, giết cả anh lẫn em. Ở ta, An Sinh Vương Trần Liễu từng bất đồng, từng định phản nghịch nhưng biết nghĩ lại, anh em vẫn thương yêu nhau. Về chuyện này, Trần Hạo (vua Trần Dụ Tông 1336 - 1369) từng viết:

Ðường - Việt hai vua hiệu Thái Tông
Ðường xưng: Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong
Kiến Thành bị giết, An Sinh sống
Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng.

Hà Nội, thành phố nghìn năm tuổi là nghìn năm trận mạc. Nhưng trên tất cả là vẻ hào hoa, thanh lịch. Ca dao xưa nói về người Hà Nội, nói về cái bản chất nhất, chính là vẻ hào hoa, thanh lịch đó:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Dường như người Hà Nội rất ít nói về chiến tranh. Ðiều người Hà Nội muốn nói tới, muốn tự hào chính là những sản vật của quê hương, là lao động sáng tạo từ đời này sang đời khác. Người Láng nói rằng:

Ði đâu mà chẳng biết ta
Ta ở Kẻ Láng vốn nhà trồng rau...

Người Bưởi nói rằng:

Dám xin sư bác chớ cười
Em đây làm giấy cho người chép kinh...

Ở Hà Nội, phố phường nào, làng nào cũng là làng nghề nổi tiếng. Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương; Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm Sét ... Chỉ một huyện Thanh Trì cũng có bao điều để kể:

Kể chơi một huyện Thanh Trì
Mọc thì gạo sáo, Láng thì trồng rau
Ðình Gừng bán cá đội đầu
Ðịnh Công đan gối. Lủ Cầu bánh trang
Làng Mơ cất rượu khê nồng
Làng Vọng dệt vải, chăn tằm làng Mui...

Xã hội thay đổi, nghề nghiệp và thói quen sản xuất cũng thay đổi theo.

Nhưng cái không thay đổi của người Hà Nội là lòng yêu nước, là sự chằm bặp quê hương, là câu hỏi về trách nhiệm của mình trước quá khứ, hiện tại và tương lai:

Ðài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Vì ai gây dựng nên non nước này?

Và từ câu hỏi đó, tình yêu và trách nhiệm đó, là một lòng tin:

Thăng Long- Hà Nội đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Cố đô rồi lại tân đô
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây!

ĐINH THIÊN HƯƠNG

Có thể bạn quan tâm