Nhiều cơ sở y tế chưa có hệ thống nước thải
Theo Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, nhiều cơ sở y tế trên địa bàn thành phố đến nay vẫn chưa có HTXLNT. Trong số 34 bệnh viện tư nhân có 16 bệnh viện có HTXLNT đạt chuẩn, 18 bệnh viện còn lại có HTXLNT nhưng chưa đạt chỉ tiêu theo tiêu chuẩn môi trường và 7.200 phòng khám tư nhân vẫn chưa có HTXLNT. Nhiều bệnh viện công đã có HTXLNT nhưng lại không đủ tiêu chuẩn do quá tải. Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP Hồ Chí Minh (quận 5) được tiếp quản năm 1975 với quy mô 150 giường bệnh. Năm 1989, bệnh viện xây dựng HTXLNT với công nghệ xử lý bể lắng lọc, sục hóa chất, công suất 300 m3/ngày đêm. Ðến nay, mặc dù số giường bệnh đã gấp ba lần so với trước nhưng hệ thống xử lý nước thải vẫn như cũ khiến cho nước thải không được xử lý tốt. Tương tự, Bệnh viện quận Phú Nhuận có HTXLNT được xây dựng từ năm 1999 dành cho cơ sở y tế có quy mô 70 giường bệnh. Từ năm 2007 đến nay, bệnh viện đã mở rộng lên hơn 100 giường và nhiều phòng ốc được mở rộng thêm, nhưng HTXLNT không được củng cố, luôn bị trục trặc và có những thời điểm xả thải trực tiếp ra môi trường...
Ước tính mỗi ngày các bệnh viện đóng trên địa bàn thải ra môi trường khoảng 23.000 m3 nước thải y tế. Ða số nước thải y tế chưa được xử lý hoặc đã qua xử lý nhưng không đạt chuẩn nên chứa nhiều nguy cơ mang mầm bệnh, ảnh hưởng đến môi trường. Theo Phó trưởng khoa Môi trường, Trường đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh TS Nguyễn Tấn Phong, trong nước thải bệnh viện chứa 20% chất thải nguy hại và nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường, gây bệnh cho người dân, trong đó có các dịch máu, nước tiểu, các chế phẩm thuốc...
Huy động từ nhiều nguồn vốn
Ðể chấm dứt tình trạng nước thải bệnh viện chưa đạt tiêu chuẩn xả ra môi trường, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh đã mở nhiều hướng đầu tư xây dựng các công trình xử lý nước thải, trong đó có hình thức xã hội hóa. Công trình đầu tiên được đầu tư theo hình thức xã hội hóa là HTXLNT Bệnh viện Nhi Ðồng 1. Công trình có kinh phí 9,5 tỷ đồng, bảo đảm xử lý lượng nước thải của đơn vị theo công nghệ tiên tiến của Nhật Bản do một doanh nghiệp đầu tư và đảm nhiệm việc vận hành. Bệnh viện trả chi phí cho nhà đầu tư trong 10 năm (mỗi năm khoảng hai tỷ đồng), sau thời gian này, toàn bộ trang thiết bị của HTXLNT chuyển cho bệnh viện quản lý. Trưởng Phòng Hành chính quản trị Bệnh viện Nhi Ðồng 1 Huỳnh Văn Mến, cho biết: "Việc lựa chọn chương trình xã hội hóa nước thải y tế rất nhanh và hiệu quả, chúng tôi không phải lo nhân công vận hành. Nếu phải lo vận hành thời điểm này, bệnh viện sẽ không đủ nhân lực, trình độ thực hiện". Từ hiệu quả của xã hội hóa xây dựng HTXLNT của Bệnh viện Nhi đồng 1, mô hình này cũng đã được triển khai tại Bệnh viện Phụ sản Hùng Vương với công suất xử lý nước thải 1.000 m3/ngày và sắp tới sẽ triển khai tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương...
Cùng với việc triển khai xây dựng HTXLNT tại các bệnh viện tuyến thành phố, TP Hồ Chí Minh cũng cho triển khai tại các bệnh viện tuyến quận và trạm y tế xã, phường. Ðến nay, đã có 13/23 bệnh viện quận, huyện và 80/322 trạm y tế phường, xã đã có đề án cụ thể về xây dựng HTXLNT. Ðể bảo đảm yêu cầu về kinh phí, UBND thành phố cũng đã chấp thuận chủ trương xã hội hóa xây dựng HTXLNT cho các bệnh viện tuyến huyện. Ðối với 322 trạm y tế phường, xã, giao cho Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình quận, huyện làm chủ đầu tư xây dựng HTXLNT, với công nghệ của Nhật Bản kết hợp với Việt Nam, tổng giá trị đầu tư khoảng 100 tỷ đồng. HTXLNT của các trạm y tế phường, xã có công suất 2 m3/ngày đêm, tuổi thọ thiết bị hơn 30 năm. Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh Huỳnh Văn Biết cho biết: "Sở đã chỉ đạo cho các đơn vị trong ngành y tế trên địa bàn từ nay đến cuối năm 2012 phải xây dựng xong HTXLNT y tế đạt chuẩn về xả thải. Nếu đơn vị nào vẫn còn xả thải ra môi trường không đạt thì buộc phải đóng cửa".
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ 9, đến cuối năm 2015, thành phố thu gom, lưu giữ, xử lý 100% chất thải rắn thông thường ở đô thị, chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn y tế, nước thải công nghiệp và y tế; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.