Tập thơ: Ngàn năm thương nhớ

... Mùa thu năm 1010, Hoàng đế Lý Công Uẩn ban Chiếu dời đô. Ngày nay chúng ta kính cẩn và trân trọng Chiếu dời đô như bài thơ đầu tiên của tổ tiên ta, cha ông ta viết về đất, về người Thăng Long - Hà Nội. Và cho đến muôn sau, mãi mãi Chiếu dời đô vẫn là bài thơ đẹp nhất, hay nhất, trữ tình nhất về Thăng Long - Hà Nội, của Thăng Long - Hà Nội, của Tổ quốc Việt Nam anh hùng.

Trải một nghìn năm, qua bao thế hệ các nhà thơ Việt Nam từ các triều Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn... cho đến ngày nay đã để lại hàng nghìn, hàng nghìn bài thơ vừa hay vừa đẹp nói lên tình yêu Thăng Long - Hà Nội, nói lên ý chí và tâm huyết giữ gìn bảo vệ và xây dựng Thăng Long - Hà Nội của tổ tiên cha ông ta, của dân tộc và đất nước Việt Nam ta.

Với tất cả niềm tâm huyết sâu xa của mình chúng tôi lấy mục đích vì một nền thơ ca Việt Nam nói chung, Thăng Long - Hà Nội nói riêng để làm tuyển tập này.

Chúng tôi kính cẩn cúi đầu trước anh linh các tiền nhân của nhiều thế kỷ trước đã để lại những bộ sưu tập vô cùng đồ sộ, hoành tráng, uyên thâm, trác tuyệt trên nhiều lĩnh vực và đặc biệt về thi ca như Việt Âm Thi Tập của Phan Phu Tiên; Tinh Tuyển Thi Tập của Dương Ðức Nhan; Trích Diễm Thi Tập của Hoàng Ðức Lương; Toàn Việt Thi Lục của Lê Quý Ðôn; Hoàng Việt Thi Tuyển của Bùi Huy Bích...

Những công trình văn hóa lịch sử lớn lao ấy là tài sản cố định vô giá mà ngày nay con cháu được thừa hưởng. Chúng tôi xin được sao chép một phần tinh hoa cao quý ấy của tổ tiên để lại như là một việc làm "uống nước nhớ nguồn" của hậu thế.

Xin kính cẩn dâng Ngàn năm thương nhớ lên Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô văn hiến, Thủ đô anh hùng, Thủ đô hòa bình của Tổ quốc Việt Nam ngàn năm văn hiến của chúng ta.

Xin trân trọng giới thiệu áng thơ Chiếu dời đô của Ðức vua Lý Thái Tổ. Bài thơ đầu tiên về Thăng Long - Hà Nội.

DỊCH NGHĨA

      CHIẾU DỜI ÐÔ

Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh(*) năm lần dời đô(**), nhà Chu đến vua Thành vương(***) ba lần dời đô(****). Há có phải các vua thời Tam đại(*****), theo ý riêng mình tự càn bậy dời đổi hay sao? Ấy chỉ vì muốn đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau. Do đó, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy tiện lợi thì đổi dời, cho nên vận nước dài lâu, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh Lê, theo ý riêng của mình, quên cả mệnh trời, không noi theo dấu cũ Thương Chu, cứ đóng yên đô ấp ở đấy(******) khiến cho triều đại không bền, vận số ngắn ngủi, trăm họ thêm hao tổn, muôn vật không thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đi.

Huống chi Ðại La(*******) là đô cũ của Cao vương(********), ở chính giữa bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi, vị trí thích trung với bốn phương đông, tây, nam, bắc, tiện cho chiều hướng thuận nghịch của núi sông. Ở đó, địa thế vừa rộng vừa phẳng, vùng đất vừa cao vừa sáng, dân cư không lo nạn lụt lội, đắm đuối, muôn vật cũng rất phong phú tốt tươi. Ngắm khắp nước Việt ta, duy đó là thắng địa, thật là nơi then chốt của bốn phương hội lại, và cũng là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn nhân cái địa lợi ấy để định chỗ ở, các ngươi cho là thế nào?

----------------------------------

(*) Bàn Canh: Vua thứ 17 nhà Thương ở cổ đại Trung Quốc.

(**) Năm lần dời đô: Thành Thang đóng đô ở phía đông nam huyện Thương Khâu (thuộc tỉnh Hà Nam). Trọng Ðinh dời đô đến huyện Thành Cao (thuộc tỉnh Hà Nam). Hà Ðản Giáp dời đô đến phủ Chương Ðức (thuộc tỉnh Hà Nam). Tổ Ất dời đô đến phủ Thuận Ðức (thuộc tỉnh Hà Ðông). Bàn Canh dời đô đến huyện Yên Sư (thuộc tỉnh Hà Nam).

(***) Thành vương: Vua thứ 3 nhà Chu.

(****) Ba lần dời đô: Chu Văn Vương đóng đô ở phía đông huyện Hộ (tỉnh Thiểm Tây). Vũ Vương dời đô đến huyện Trường Yên (tỉnh Thiểm Tây). Thành vương dời đô đến huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam).

(*****) Tam đại: Hạ, Thương, Chu.

(******) Ở Hoa Lư: Khi đó triều đình còn ở Hoa Lư (Ninh Bình).

(*******) Ðại La: Thuộc địa phận Hà Nội bây giờ; dấu tích thành cũ hiện còn một phần ở con đường từ Ô Cầu Giấy đến Bưởi.

(********) Cao vương: Cao Biền, viên quan đô hộ Giao Châu của nhà Ðường vào khoảng các năm 864, 875. Cao Biền đắp thành Ðại La vào khoảng năm 866.

Có thể bạn quan tâm