Trẻ con thì tất cả người lớn phải nâng niu chiều chuộng nó, không đáp ứng, nó khóc liền. Người đẹp thì rõ rồi. Do đẹp nên kiêu, nhất là kiêu với bọn đàn ông vây quanh tán tỉnh. Còn nhà văn trẻ thì khỏi phải nói. Họ... không coi ai ra gì. Trẻ mà lại tài nữa, người ta có quyền kiêu chứ sao!
Một câu chuyện vui vui thôi nhưng cũng khiến mỗi người làm nghề đủ ngẫm.
Mỗi một người viết đến một lúc nào đó tạo ra được uy tín trong giới chuyên môn và bạn đọc, khi ấy họ có thể trở thành một tiếng nói phát ngôn có thẩm quyền, gây chú ý. Đối với người sáng tác, dịch thuật, thẩm quyền phát ngôn chủ yếu bằng các tác phẩm. Còn đối với người làm công việc nghiên cứu, phê bình, thẩm quyền phát ngôn nằm ở các bài viết, các tiểu luận, công trình. Tựu trung, ai cũng biết rằng, ở cả người sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu phê bình, việc xác lập thẩm quyền phát ngôn chủ yếu nằm ở tác phẩm, chứ không ở các kiểu lên tiếng trực tiếp mang tính luận đề hoặc nằm ngoài văn học.
Thẩm quyền phát ngôn, nói một cách khác chính là một thứ quyền lực chuyên môn cất tiếng, tham dự vào đời sống văn học bằng chất lượng tác phẩm của mình.
Nhìn vào những người viết trẻ (một cách gọi mang tính ước định, chỉ trẻ về tuổi tác), bên cạnh đặc điểm chung của người viết, họ có những ưu thế riêng, làm nên một thứ “quyền lực” riêng.
Khía cạnh đầu tiên là sức mạnh thuộc về tự nhiên. Tuổi trẻ gắn liền với sức lực thuộc về thể chất, nội lực thuộc về tinh thần gắn liền với khát vọng, nhu cầu khẳng định mình trong cuộc đời, trong trường văn trận bút. Điều này tưởng như đơn giản, nhưng kỳ thực trong sâu xa, một thân thể mạnh/yếu sẽ liên quan mật thiết tới hoạt động viết văn. Thực hành lao động viết trong lúc khỏe mạnh sẽ đẻ ra một thứ văn khác, những câu chữ, hình ảnh, khí lực khác so với những lúc mệt mỏi, uể oải, chán chường... Người trẻ sẽ có nhiều ưu thế trong sức tưởng tượng, liên tưởng - điều tối cần thiết trong sáng tác.
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có lần nhận xét rằng người viết trẻ hiện nay năng lực tưởng tượng yếu. Tôi thường hay ngẫm về điều này. Nhìn vào một số sáng tác của nhà văn như bộ ba truyện “giả lịch sử” Kiếm sắc, Vàng lửa, Giọt máu, hay như Chảy đi sông ơi, Người con gái Thủy Thần, Mưa Nhã Nam... thấy sức tưởng tượng và hư cấu của nhà văn thật mạnh mẽ và đáng nể.
Người viết trẻ có khả năng vượt thoát khỏi các định kiến, khuôn mẫu có sẵn như là những lực cản đối với sáng tạo.
Thứ hai, người viết trẻ có khả năng vượt thoát khỏi các định kiến, khuôn mẫu có sẵn như là những lực cản đối với sáng tạo. Điều này như một tất yếu. Mỗi thế hệ bao giờ cũng gánh trên vai một loạt định kiến và khuôn mẫu của truyền thống để lại. Vấn đề của người trẻ là có khả năng nhận ra các khuôn mẫu ấy để đối thoại, để vượt thoát, làm mới và làm khác hay không. Điều này không dễ. Phải có một cái nhìn tương đối hệ thống, thấu đáo mới có thể nhìn ra các khuôn mẫu, định kiến cản trở; và đâu là những giá trị có tính hằng số, phổ quát cần trân trọng.
Ở đây cần phải nói thêm, toàn bộ tiến trình văn học của nhân loại là quá trình thiết lập các mô hình, rồi lại phá vỡ các mô hình để thiết lập các mô hình khác do thực tiễn đòi hỏi, cứ thế và mãi mãi. Trong tiến trình này, những người ưu tú sẽ đóng vai trò tiên phong và nhờ vậy văn học phát triển. Lịch sử văn chương nhân loại nói chung và văn chương Việt nói riêng đều giống nhau ở điểm này. Nhìn lại Phong trào thơ Mới 1932-1945, hay văn xuôi hiện đại cùng thời, các gương mặt đảm nhiệm cách tân đều đang độ tuổi quá trẻ, quãng từ 16 đến dưới 30 cả.
Điểm mạnh nữa ở những người trẻ là sự tự ý thức về “cái tôi” đầy nội lực một cách thành thực, với tất cả cái được và chưa được ở họ. Họ dám sống với chính con người mình, bản ngã của mình, dám thử sai, dám phiêu lưu, chấp nhận vấp ngã và thất bại để làm lại... Toàn bộ động hướng của họ là hướng về phía trước, về cái sẽ là. Người lớn tuổi bao giờ cũng thận trọng hơn, đồng nghĩa với việc ít hoặc không dám phiêu lưu, không dám thử nghiệm, chấp nhận cái đang là, ưa hoài niệm... Người trẻ hôm nay cũng đủ thông minh để tự tri, biết mình đang ở đâu, thiếu hụt những gì, cần bổ túc những gì. Tôi nghĩ, khi dám sống trung thực với chính mình, dám mơ tưởng, người ấy sẽ có nhiều cơ hội tựu thành.
Tuy nhiên, những cây bút trẻ ngày hôm nay cũng có nỗi thua thiệt, nỗi khổ mang tính thế hệ.
Đời sống diễn ra với tốc độ rất nhanh. Con người ta chưa kịp thẩm thấu cái này đã trôi sang cái khác. Không gian văn hóa - văn học ngày càng rộng lớn, con người định vị thế nào, các tác giả định vị mình thế nào là câu chuyện chưa bao giờ dễ dàng, nhưng nay lại càng khó hơn. Lại nữa, khi công nghệ AI đang xâm nhập mạnh mẽ vào việc tạo lập cái viết, đặt ra yêu cầu hiểu nó, làm chủ nó, sử dụng như thế nào, ở mức nào, tính pháp lý ra sao..., tất cả liệu có làm mất cái “vân chữ” (chữ dùng của nhà thơ Lê Đạt), tức là hồn vía, cảm xúc, cá tính tác giả trong những cái viết của mình? Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu gọi là văn chương “hậu nhân loại”, một câu chuyện rất cần được lưu tâm và nghiên cứu thấu đáo.
Nhân đây, cũng xin nói thêm cái ý cuối cùng trong khuôn khổ bài viết nhỏ này rằng người viết trẻ hôm nay cần khắc phục một hạn chế rất lớn ở thế hệ các đàn anh đi trước, đó là ý thức tiếp nhận và ứng dụng các tri thức triết - mỹ, các lý thuyết văn học thế giới.
Ngày trước, có thể tính từ năm 2000 trở về năm 1954, do đất nước có những giai đoạn trong tình trạng thời chiến hoặc trong quá trình đổi mới với rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, nên các nhà văn đa phần ít được biết và quan tâm tới các tri thức tiên tiến và đa dạng của nhân loại. Từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay, tình hình đã khác. Hiện nay, nhờ điều kiện tiếp xúc, tìm kiếm dễ dàng, hầu như các lý thuyết, các trào lưu, xu hướng, các tác phẩm tiêu biểu nhất của văn chương nhân loại mau chóng được giới thiệu ở nước ta. Đọc để học họ. Đọc để biết mình đang ở đâu. Đọc để được gợi ý và truyền cảm hứng (dĩ nhiên cũng xuất hiện nguy cơ bị phân tán, thiếu khả năng lựa chọn)...
Tôi không nghĩ rằng giữa lý thuyết và sáng tác có mâu thuẫn nhau. Nhiều tấm gương từ cổ chí kim trên thế giới và cả ở Việt Nam cho thấy nhiều nhà văn đồng thời là nhà dịch thuật, là nhà nghiên cứu phê bình, nhà triết - mỹ, nhà tư tưởng nói chung. Điều đó khẳng định sự chung sống và tương tác cần thiết giữa nhiều lĩnh vực trong một con người, và cũng đồng thời khẳng định tầm vóc của họ trong đời sống văn học dân tộc mà họ thuộc về và rộng ra là toàn nhân loại.
Nhìn vào thế hệ đàn anh của lớp người viết trẻ hiện nay, theo tôi nghĩ cũng đang có khá nhiều vấn đề cần phải xem lại. Việc đầu tiên, người đi trước cần có phẩm chất liên tài đối với người viết trẻ. Phát hiện, động viên họ sáng tác; mỗi khi một ai trong số họ gặp điều gì mà mình thấy chưa hài lòng, cần trao đổi chân tình, tránh phê phán một cách nghiệt ngã, cay độc. Nhìn lại một số vụ việc ở người viết trẻ trong những ngày vừa qua, dường như chưa thấy ứng xử thật sự thỏa đáng và đẹp của một số người lớp trước.
Tiếp nối các thế hệ là một quy luật. Thế hệ đi trước nhìn những người viết trẻ lớp sau thấy lại hình ảnh của mình khi đang ở độ tuổi đó. Thế hệ những người trẻ nhìn thế hệ đi trước cũng sẽ thấy “tương lai” tất yếu của thế hệ mình... Khi hiểu ra “quyền lực trẻ” của thế hệ mình cũng đồng thời hiểu được trách nhiệm đối với đất nước, con người, với tiếng Việt và văn chương/văn hóa Việt nói chung.