Là đồng sáng lập kiêm Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn trà và đặc sản Tây Bắc, người gắn bó với thương hiệu trà Shanam, đồng thời cũng là một nghệ nhân trà Việt, chị Nguyễn Thị Thắm cho biết, khi mình yêu mến nó, mình sẽ không thấy nó nhàm chán. Đấy cũng là một cách mà những người làm nghề liên tục gắn bó, tìm tòi sáng tạo và đổi mới.
Không mở đầu, cũng chẳng có kết thúc, câu chuyện nghề và trà Việt lôi cuốn, hấp dẫn lạ thường. Bên chén trà, tình yêu với nghề và mong mỏi truyền tải lại truyền thống trà Việt cho thế hệ trẻ là điều nữ nghệ nhân này tâm niệm mãi. Chị kể: “Như kiểu của Shanam là gắn bó đủ lâu để thấy “vàng”, thấy “kim cương” lấp lánh trong những búp trà shan tuyết cổ thụ”.
Nữ nghệ nhân và hành trình xây dựng thương hiệu trà Shanam
Vài năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam mới bắt đầu đề cập sự gia tăng giá trị của nông sản hay các sản phẩm nông nghiệp bằng câu chuyện. Nhưng thật ra, Shanam lại khởi nguồn từ câu chuyện gắn với sản phẩm, gần như Shanam cũng đã đi trước trong cả một chuỗi gia tăng giá trị. Điều quan trọng bây giờ là khẳng định câu chuyện đó và củng cố giá trị. “Cái chính là làm gia tăng dược tính trong trà. Ngày xưa chỉ uống một buổi sáng nhưng giờ có thể uống cả đêm. Ngày xưa chỉ có người lớn uống trà, bây giờ trẻ con cũng uống được trà. Bản chất câu chuyện ở đây là mình tạo ra thêm các sản phẩm trà phù hợp từ chính lá trà, búp trà đó”, nữ nghệ nhân Nguyễn Thị Thắm chia sẻ.
Đề cập việc xây dựng và kể câu chuyện gắn với nông sản, chị Thắm nhấn mạnh, nếu chỉ kể chuyện hay mà sản phẩm không có gì thì cũng không tồn tại lâu bền được. Với Shanam, chúng tôi đang tập trung vào giá trị lõi và tạo ra các sản phẩm có nhiều giá trị gia tăng. Trà shan tuyết là đặc sản, là phẩm trà tốt nhất của Việt Nam và phải đến năm 2019 mình mới biết là nó đặc biệt nhất thế giới. Vậy thì, cái gì hay nhất của Việt Nam mình thì mình làm. Cộng thêm quan điểm của anh Phạm Vũ Khánh, sáng lập thương hiệu Shanam, cái gì tốt nhất là để dành trước hết cho người Việt. Trước kia, cứ có thứ gì tốt thì mang đi bán hết, bản thân mình chả được dùng, chả được ăn, bây giờ điều đó phải thay đổi.
"Có thể thấy, hạt giống đầu tiên của Shanam là tham gia dự án do Oxfam tại Việt Nam hợp tác với Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) và Trung tâm hỗ trợ phát triển xanh (GreenHub) triển khai với tên gọi "Doanh nghiệp phát triển (EFD) được tài trợ bởi mạng lưới Doanh nhân vì Doanh nhân của Oxfam Novib và Quỹ GSRD. Dự án này dành cho doanh nghiệp kinh doanh tạo tác động xã hội và có trách nhiệm xã hội, hoạt động theo chuỗi giá trị, làm trực tiếp với nông dân, tổ chức hoạt động với mô hình hợp tác xã, thông qua đó, gia tăng giá trị của người tham gia trong chuỗi", nghệ nhân trà Việt Nguyễn Thị Thắm chia sẻ.
Gốc xưa chảy vào ngày mới - Khi di sản sống cùng hiện tại
Nhân kỷ niệm chặng đường gần 10 năm qua của Shanam (từ 2017 đến nay), Tiến sĩ Phan Tất Thứ, Chủ tịch và Chuyên gia trưởng KNV Group nhận định, giữ gìn di sản thường bị hiểu lầm là giữ cho quá khứ đứng yên nhưng với trà cổ thụ, giữ không phải là đóng khung, mà là để sự sống tiếp tục chảy. Những gốc trà già nơi rừng sâu không chỉ là cây hàng trăm tuổi, chúng là ký ức của đất, của sương, của nhịp mùa bền bỉ. Khi con người nói đến việc đưa “dòng nhựa sống từ rừng vào cuộc sống”, thực chất là đang đặt ra một câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để những giá trị cổ xưa vẫn có mặt trong đời sống hôm nay mà không bị biến thành hoài niệm.
Khi con người cho phép mình chậm lại bên chén trà, họ không chỉ uống một thức uống mà đang tiếp nhận một nhịp sống. Và chính trong nhịp sống ấy, di sản không chỉ được nhớ đến, mà được sống tiếp. Đấy cũng là cách Shanam không ngừng trưởng thành và lớn mạnh.
Tiến sĩ Phan Tất Thứ
Theo Tiến sĩ Thứ, nhiều di sản mất dần ý nghĩa không phải vì lỗi thời, mà vì bị tách khỏi đời sống thường nhật. Một ngôi đình không còn sinh hoạt cộng đồng sẽ chỉ còn là kiến trúc. Một nghề thủ công không còn người dùng sẽ trở thành trưng bày. Trà cũng vậy. Nếu trà chỉ tồn tại trong các buổi lễ trang trọng hoặc trong những không gian “được dàn dựng”, nó sẽ dần xa rời con người hiện đại. Ngược lại, khi trà xuất hiện trong buổi sáng yên tĩnh trước giờ làm, trong cuộc trò chuyện chậm sau một ngày dài, hay trong lớp học nơi người trẻ được mời dừng lại và cảm nhận, di sản ấy bắt đầu chảy.
Cũng theo Tiến sĩ Thứ, nhìn từ góc độ hệ thống, “gốc xưa” không chỉ là cây trà mà là toàn bộ mạng lưới sống quanh nó: rừng, con người, nhịp lao động và cách ứng xử với thời gian. Giữ di sản vì thế không thể chỉ dừng ở việc bảo tồn vật chất, mà cần bảo tồn cách sống. Một người hái trà biết chờ sương tan, biết để cây nghỉ; một người pha trà biết dừng vài phút trước khi rót nước; những hành vi nhỏ đó, lặp lại mỗi ngày, chính là dòng chảy di sản đi vào hiện tại. Chúng không ồn ào, nhưng bền bỉ.
Từ góc nhìn phản biện, điều thách thức nhất không phải là thiếu ý tưởng, mà là sự hấp tấp. Trong bối cảnh thị trường và truyền thông vận hành nhanh, di sản dễ bị “đóng gói” thành câu chuyện tiếp thị ngắn hạn. Nhiều thương hiệu văn hóa thất bại vì nói quá nhiều về giá trị mà không tạo đủ không gian để người khác tự cảm. Trà, với đặc tính chát đầu và hậu ngọt đến sau, nhắn nhủ rằng những gì bền vững thường không chiều lòng ngay lập tức. Bài học này không chỉ dành cho người uống trà, mà cho cả cách một tổ chức chọn bước vào ngày mới.
Vậy để dòng chảy ấy thật sự xảy ra, cần ba chuyển động giản dị nhưng quyết định. Thứ nhất là lắng nghe: lắng cây, lắng người, lắng cộng đồng để hiểu điều gì cần được giữ và điều gì nên mở. Thứ hai là kết nối: đưa trà ra khỏi không gian biểu tượng để đi vào đời sống đương đại, từ gia đình, trường học đến nơi làm việc. Thứ ba là sinh thành: tạo điều kiện để di sản tiếp tục sinh sôi qua trải nghiệm, giáo dục và thực hành, chứ không chỉ qua lời kể.
“Sau cùng, “chảy vào ngày mới” không phải là thay đổi bản chất của gốc xưa, mà là để gốc ấy nuôi dưỡng hiện tại. Khi con người cho phép mình chậm lại bên chén trà, họ không chỉ uống một thức uống mà đang tiếp nhận một nhịp sống. Và chính trong nhịp sống ấy, di sản không chỉ được nhớ đến, mà được sống tiếp. Đấy cũng là cách Shanam không ngừng trưởng thành và lớn mạnh”, Tiến sĩ Thứ nhấn mạnh.
Định vị thương hiệu bằng chất lượng vượt trội
Năm 2020, ngành trà Việt có một thành tích khá ấn tượng và quan trọng, đó là nhận giải Bạc châu Á-Thái Bình Dương (không có giải Vàng) tổ chức tại Trung Quốc cho sản phẩm Bạch trà thiên của thương hiệu trà Shanam. Giới nghiện trà trong nước gần như bị rúng động, bởi đây là một giải thưởng rất quan trọng và có uy tín với ban giám khảo toàn là những “ông lớn” về trà của thế giới. Tiếp ngay sau đó, thương hiệu trà Shanam đã được tổ chức Tea Epicure của Hoa Kỳ xếp vào top 1 dòng trà xanh trên thế giới với số điểm gần như tuyệt đối là 94/100 điểm, tiếp tục khẳng định chất lượng của thương hiệu.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân chung quanh câu chuyện đưa sản phẩm trà shan tuyết của bà con đồng bào Mông tại Tà Xùa (Sơn La) trở thành sản phẩm hàng hóa, chị Phạm Thị Việt Hà, Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn trà và đặc sản Tây Bắc (TAFOOD) cho biết, đây là câu chuyện chung của rất nhiều làng nghề Việt Nam cũng gặp phải. Do đó, khi quyết định xây dựng thương hiệu cho sản phẩm trà shan, TAFOOD đã quyết định chọn cái tên Shanam để giúp cho người tiêu dùng định hình được việc cái tên này sẽ bảo lãnh cho một vùng mà nghe đến đó đã hình dung ra vùng đất của những sản phẩm trà chuẩn và có chất lượng tốt nhất.
Thương hiệu Shanam ra mắt vào tháng 12/2017, khi tham gia các hội chợ, triển lãm, thậm chí những người làm trà còn phải cầm ảnh để kể cho khách hàng biết là trà này được sản xuất từ cây cổ thụ như thế nào. Thậm chí còn phải truyền thông về cây trà trước, sau đó cho khách hàng uống thử rồi mới truyền thông đến sản phẩm. Thế nhưng đến nay, được sự cộng hưởng của truyền thông và của chính quyền địa phương, Shanam đã định vị thương hiệu là dòng trà shan chất lượng phù hợp với rất nhiều đối tượng, thị trường. Thí dụ như những sản phẩm để cho người già tránh mất ngủ; những sản phẩm cho các bố, các mẹ và cho các bé…
Thương hiệu trà Shanam định hướng mục tiêu chinh phục thị trường trong nước trong 5 năm đầu tiên và đến nay đã được người tiêu dùng trong nước khá yêu mến. Có được điều này là do người tiêu dùng tin tưởng sản phẩm trà Việt, mang hương vị Việt và truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn trà và đặc sản Tây Bắc Phạm Thị Việt Hà
Đặc biệt, bên cạnh trà truyền thống, công ty còn tiên phong sản xuất trà ép bánh Shanam, dòng sản phẩm mới lạ, độc đáo mang lại nhiều giá trị về văn hóa cũng như kinh tế cho địa phương trong vài năm trở lại đây. Thương hiệu trà Shanam cũng đã được nhiều người yêu trà trên toàn quốc biết đến như là một thương hiệu tiên phong trong việc nghiên cứu và phát triển các dòng sản phẩm trà lên men, trà ép bánh của Việt Nam.
“Thương hiệu trà Shanam định hướng mục tiêu chinh phục thị trường trong nước trong 5 năm đầu tiên và đến nay đã được người tiêu dùng trong nước khá yêu mến. Có được điều này là do người tiêu dùng tin tưởng sản phẩm trà Việt, mang hương vị Việt và truy xuất nguồn gốc rõ ràng”, chị Hà khẳng định.
Vừa mới đây, lần đầu tham gia Hội chợ Mùa Xuân 2026, trà Shanam mang theo mùa xuân Tà Xùa xuống phố với khát vọng quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu. Gặp chị Nguyễn Thị Thắm, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn trà và đặc sản Tây Bắc dịp này, chị vui mừng chia sẻ, Shanam đến Hội chợ Mùa Xuân 2026 không chỉ với tư cách là một doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm mà với mong muốn mang cả “mùa xuân Tà Xùa” về giữa lòng Thủ đô. Đó là mùa xuân của rừng trà shan tuyết cổ thụ, của mây núi, khí hậu và thổ nhưỡng rất riêng mà không nơi nào có được.
Xuất phát từ mong muốn giữ rừng trà cổ thụ và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc Mông, nếu không có doanh nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất bài bản, rừng trà rất dễ bị bỏ hoang, bị chặt phá hoặc khai thác theo cách không bền vững. Khi đó, không chỉ mất đi một nguồn nguyên liệu quý, mà còn mất cả một phần bản sắc văn hóa gắn với cây trà. Do đó, ngay từ đầu, Shanam xác định không thể phát triển nếu đứng ngoài cộng đồng. Toàn bộ cán bộ, công nhân viên làm việc tại nhà máy đều là đồng bào Mông tại xã Tà Xùa. “Chúng tôi coi người dân địa phương là trung tâm của chuỗi giá trị, không chỉ là người cung cấp nguyên liệu mà là đối tác lâu dài, cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm”, chị Thắm chia sẻ.
Chúng tôi coi người dân địa phương là trung tâm của chuỗi giá trị, không chỉ là người cung cấp nguyên liệu mà là đối tác lâu dài, cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm.
Nghệ nhân trà Việt, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn trà và đặc sản Tây Bắc Nguyễn Thị Thắm
Sự thay đổi có thể nhìn thấy rất rõ, cả về kinh tế lẫn nhận thức xã hội. Khi nhà máy bắt đầu hoạt động vào năm 2016, giá chè tươi trên thị trường chỉ khoảng 12.000 đồng/kg. Ngay từ thời điểm đó, Shanam đã thu mua với giá 40.000 đồng/kg. Đến nay, vào vụ xuân, giá thu mua đã tăng lên 80.000-90.000 đồng/kg, tức là thu nhập từ mỗi kg chè tươi của bà con tăng gần gấp ba lần so với trước khi có doanh nghiệp vào cuộc. Hiện, có hơn 20 lao động địa phương làm việc thường xuyên tại nhà máy, được đóng bảo hiểm, được đào tạo kỹ năng làm việc. Nhiều người trước đây chưa biết chữ đã được xóa mù, có người tiếp tục được đào tạo để đảm nhiệm các vị trí vận hành, quản lý.
“Đối với chúng tôi, đây không chỉ là câu chuyện lao động mà là câu chuyện về thay đổi tư duy. Ban đầu, Shanam cũng mất khoảng ba năm để hiểu và thích nghi với tập quán sinh hoạt của người Mông, từ du canh du cư đến cách làm việc mang tính “đủ ăn là được”. Nhưng khi bà con thấy rằng làm việc tại nhà máy tháng nào cũng có thu nhập ổn định, hái chè đúng tiêu chuẩn là có đầu ra, thì niềm tin dần được hình thành. Chính niềm tin đó giúp bà con bảo vệ rừng chè tốt hơn, tích cực trồng mới. Mỗi năm, Tà Xùa có thêm hàng chục héc-ta rừng chè được trồng mới nhờ chính sách bao tiêu sản phẩm của doanh nghiệp. Với chúng tôi, sự thay đổi trong nhận thức, nhất là việc người dân coi trọng học chữ, coi trọng công việc ổn định là giá trị lớn nhất mà Shanam có được”, chị Thắm cho hay.
Shanam là doanh nghiệp hiếm hoi lựa chọn phát triển trà shan tuyết cổ thụ tại Tà Xùa (Sơn La) theo hướng gắn sản xuất với bảo tồn rừng và nâng cao sinh kế cho đồng bào Mông. Doanh nghiệp bao tiêu toàn bộ sản lượng chè đạt chuẩn, giúp giá chè tươi tăng gần gấp ba lần so với trước đây. Toàn bộ lao động tại nhà máy là người địa phương, được đào tạo nghề, xóa mù chữ và có thu nhập ổn định quanh năm. Đây được xem là mô hình kinh tế gắn với trách nhiệm xã hội tiêu biểu tại vùng cao.