Tín hiệu vui từ các làng nghề
Vào thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, Quảng Nam thường được nhắc tới với những sản phẩm độc đáo, nổi tiếng như: lụa Phú Bông, Mã Châu; dâu tằm Đông Yên, Thi Lai; gốm sứ Thanh Hà, đúc đồng Phước Kiều, mộc Kim Bồng, chiếu Triêm Tây... Có những sản phẩm đã đi vào thơ ca: "Quảng Nam có lụa Phú Bông, có khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn"...
Thế nhưng, trong quá trình phát triển, người dân các làng nghề trải qua không ít thăng trầm; hàng nghìn người dân không sống được bằng nghề truyền thống đành phải tìm một lối rẽ mới, khiến nhiều làng nghề rơi vào cảnh bế tắc, mai một dần... Mãi đến những năm gần đây, khi có chính sách hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước, các làng nghề truyền thống xứ Quảng mới bắt đầu được khôi phục.
Và người dân ở các làng nghề: dệt chiếu, ươm tơ, dệt lụa (Duy Xuyên), đúc đồng Phước Kiều (Điện Bàn), mộc Kim Bồng (Hội An)... mới có điều kiện quay lại với nghề truyền thống của cha ông mình, tiếp tục chặng đường mới.
Trong câu chuyện đầu năm, đồng chí Nguyễn Đức Hải, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam cho biết: Những năm qua, tỉnh đã có nhiều chủ trương đầu tư phát triển du lịch dựa trên lợi thế của hai di sản văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An và Mỹ Sơn, qua đó đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Thế nhưng, nếu dừng lại ở đó, thì khó đưa Quảng Nam trở thành tỉnh kinh tế phát triển vào năm 2020. Do vậy, một trong nhiều nhiệm vụ cần phải thực hiện, đó là đẩy mạnh phát triển kinh tế làng nghề gắn với du lịch. Nghĩa là, lấy du lịch làm động lực để kích thích, bảo tồn và phát huy giá trị của làng nghề, tạo việc làm mới và nâng cao thu nhập cho người dân nhằm vừa bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, vừa mở hướng đi mới bền vững cho các làng nghề truyền thống ở địa phương.
Đồng chí Nguyễn Đức Hải giải thích: Một khi thực hiện điều này có hiệu quả, sẽ tạo ra bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới. Khi hệ thống hạ tầng ở nông thôn phát triển, cảnh quan làng quê thay đổi, nhất là khi sản phẩm từ các làng nghề được cải thiện sẽ thu hút khách đến làng nghề nhiều hơn, kéo theo đó: làng nghề sẽ khôi phục, phát triển; tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển bền vững hơn.
Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT và DL) Hồ Tấn Cường khẳng định: Quảng Nam đã thử nghiệm thành công việc gắn kết giữa phát triển làng nghề và du lịch cùng với sự tham gia của cộng đồng. Đến nay, toàn tỉnh đã khôi phục và phát triển được 89 làng nghề thủ công truyền thống, chủ yếu tập trung tại thành phố Hội An và các huyện: Duy Xuyên, Điện Bàn, Đông Giang, Nam Giang, Tây Giang...
Bước đầu, các làng nghề đã thu hút hơn 7.500 hộ tham gia và tạo việc làm cho 16 nghìn lao động tại địa phương. Hiện có 20 làng nghề, bảy cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ gắn với phát triển du lịch đang có nhiều khởi sắc. Thực tế cho thấy, một số sản phẩm tua du lịch như: Một ngày làm cư dân phố cổ, một ngày làm cư dân làng nghề đèn lồng, đêm rằm phố cổ Hội An, phố không có tiếng động cơ, tham quan làng rau Trà Quế, mộc Kim Bồng,... đã thu hút du khách, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân. Du khách đến tham quan các làng nghề tăng lên rõ rệt, năm 2013 ước tính khoảng 100 nghìn lượt khách đến các làng nghề; trong đó, khách quốc tế chiếm khoảng 90%. Chỉ tính riêng bảy cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ gắn với phát triển du lịch tại các địa phương, mỗi năm đã mang lại doanh thu gần 200 tỷ đồng, chiếm 10% tổng doanh thu của hoạt động các làng nghề truyền thống toàn tỉnh.
Những ngày đầu xuân, có dịp về lại Duy Xuyên, du khách dễ nhận ra tiếng máy dệt vang lên đều đều từ các làng nghề. Các làng rau Trà Quế, mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà (Hội An) đã bắt đầu đón khách đến tham quan. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, để có được kết quả như hôm nay, nhiều làng nghề đã đầu tư công sức, tiền của khá lớn. Thời gian qua, TP Hội An đã đầu tư 17,6 tỷ đồng xây dựng hạ tầng giao thông tại các làng nghề truyền thống: Mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, rau Trà Quế, dừa nước Cẩm Thanh, phố đèn lồng Hội An... Tại Duy Xuyên, sau khi tỉnh phê duyệt quy hoạch và dự án đầu tư phát triển làng nghề, huyện đã triển khai xây dựng năm km đường vào làng nghề và xây dựng cơ sở sinh hoạt làng nghề An Phước, với số tiền gần 10 tỷ đồng. Còn huyện Điện Bàn đã dành nguồn vốn của địa phương kết hợp với chương trình mục tiêu và vốn ODA đầu tư xây dựng nhà trưng bày làng đúc đồng Phước Kiều, đường vào làng nghề Đông Khương, rồi hệ thống đường giao thông, điện tại làng nghề dệt Nông Sơn (xã Điện Phước)... Không dừng lại ở đó, gần đây, Quảng Nam đã chú trọng khôi phục và phát triển làng nghề tại các huyện miền núi như: dệt thổ cẩm Zara, sản xuất rượu cần... Mới đây, huyện Đông Giang đã đầu tư hàng trăm triệu đồng xây dựng nhà Moong để trưng bày sản phẩm tại làng nghề thôn Bhờ Hôồng phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Việc đầu tư kinh phí khôi phục các làng nghề, gắn kết với điểm du lịch sinh thái tại các huyện miền núi như: thác Grăng, di tích đường Hồ Chí Minh đã góp phần "níu chân" du khách...
Những vấn đề đặt ra và giải pháp
Có thể nói rằng, chủ trương gắn khôi phục làng nghề với phát triển du lịch ở Quảng Nam, bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, tuy nhiên trong quá trình phát triển các làng nghề truyền thống gắn với du lịch còn nhiều hạn chế. Phó Giám đốc Sở VH-TT và DL Hồ Tấn Cường thừa nhận: Hiện tại, cơ chế, chính sách hỗ trợ việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống chưa cụ thể và chưa quan tâm đầu tư các làng nghề thuộc lĩnh vực nông -lâm - thủy sản. Công tác quảng bá và xây dựng thương hiệu làng nghề đã được các ngành liên quan và các địa phương triển khai nhưng hiệu quả chưa cao. Việc xây dựng và quản lý thương hiệu sản phẩm làng nghề gắn với du lịch chưa có tiêu chí cụ thể và chồng chéo trong quản lý dẫn đến việc hỗ trợ cho các làng nghề xây dựng và đăng ký thương hiệu còn nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực trong các làng nghề còn thấp, khả năng quản lý doanh nghiệp, điều hành sản xuất còn nhiều hạn chế; các nghệ nhân, thợ giỏi chưa được sử dụng và tôn vinh đúng mức. Việc nhân cấy nghề, mở rộng lớp truyền nghề cho thế hệ trẻ ở các làng nghề còn nhiều khó khăn; thu nhập của lao động làng nghề còn thấp nên khó thu hút được lao động trẻ theo nghề, dẫn đến các làng nghề hoạt động cầm chừng và bị mai một dần.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Văn Gặp bộc bạch: Hiện còn nhiều địa phương chưa thật sự quan tâm đến việc phát triển các làng nghề, hơn 60% số làng trong tỉnh chưa có nghề tiểu, thủ công nghiệp. Một số làng nghề chưa được quy hoạch, phát triển tự phát, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất của nhiều làng nghề còn khiêm tốn, thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, lao động phổ thông là chủ yếu; chi phí tiêu hao nguyên, vật liệu lớn, giá thành cao; chất lượng sản phẩm thấp, chưa tạo ra được sản phẩm độc đáo, nên sản phẩm thiếu sức cạnh tranh. Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư sản xuất của các hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp... trong các làng nghề gặp nhiều khó khăn, trong khi đó, sức huy động các nguồn vốn liên kết, liên doanh hoặc nguồn lực của chủ doanh nghiệp làng nghề còn nhiều hạn chế.
Theo đồng chí Nguyễn Văn Gặp, sắp tới Quảng Nam cần phải quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh theo hướng đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn; xây dựng chương trình, đề án bảo tồn và phát triển làng nghề. Có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề; trong đó đặc biệt ưu tiên các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các làng nghề gắn với điểm du lịch. Sớm xây dựng và thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế đất, giá thuê đất, miễn tiền thuê đất và dành một nguồn kinh phí nhất định để đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động. Đồng thời, cần tuyển chọn bồi dưỡng những lao động có tay nghề cao, để đào tạo họ sớm trở thành nghệ nhân của làng nghề; khuyến khích nghệ nhân mở lớp truyền nghề, đào tạo thợ lành nghề, giáo viên dạy nghề và người thiết kế mẫu trong các làng nghề. Mặt khác, cần thực hiện cho được thị trường tín dụng nông thôn, vận động hỗ trợ và có chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư tín dụng về nông thôn hoạt động, giúp những hộ trong làng nghề có điều kiện vay vốn để phát triển sản xuất.
Ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư đối với các dự án trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế có liên quan khác. Hỗ trợ kinh phí cho các cơ sở làng nghề và nghệ nhân tham gia các hội chợ trong và ngoài nước, các cuộc thi sáng tạo sản phẩm thủ công; đồng thời có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào các làng nghề; cơ chế hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; hỗ trợ kinh phí để xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm làng nghề đối với một số sản phẩm có uy tín trên thị trường.
Nhiều ý kiến đề nghị Quảng Nam nên lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia hướng vào mục tiêu chung bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch cải thiện sinh kế, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
Hằng năm, tỉnh cần bố trí nguồn ngân sách hỗ trợ cho các địa phương phát triển làng nghề và có cơ chế hỗ trợ về giá thuê đất, giải phóng mặt bằng, miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian đầu (từ 5 đến 10 năm). Đối với các địa phương cần tranh thủ các nguồn vốn và huy động nhân dân đóng góp để đầu tư xây dựng các hạng mục như đường giao thông, chỉnh trang sân vườn, nhà xưởng, đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc. Chú trọng hơn nữa công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch làng nghề như tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm, hội chợ du lịch trong nước và quốc tế; có chính sách hỗ trợ cho các nghệ nhân có tay nghề cao mở lớp truyền nghề cho lao động trẻ tại địa phương.
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý và địa phương cần tiếp tục hỗ trợ về mặt kỹ thuật và định hướng cho các làng nghề đa dạng hóa sản phẩm làng nghề, tập trung sản xuất các mặt hàng có giá trị nghệ thuật, phù hợp với thị hiếu của du khách. Quảng Nam cần có kế hoạch tổ chức lễ hội làng nghề truyền thống với nhiều hoạt động triển lãm, biểu diễn nghề, thi tay nghề và tạo động lực thúc đẩy lòng yêu nghề, kích thích sáng tạo đối với lao động trẻ...