Nơi phát tích tình yêu

NDĐT- Ngày ở Hà Giang, tôi được nghe kể về mối lương duyên kỳ lạ để rồi từ đó, trên mảnh đất địa đầu cực bắc của nước ta đã có thêm những câu chuyện đẹp đến ngỡ ngàng. Ở mảnh đất địa đầu nơi ấy có lá cờ tổ quốc tung bay kiêu hãnh như vấy gọi, dẫn đường mỗi người dân Việt.

Huyền sử đất thiêng

Trong những lần lên cột cờ Lũng Cú, tôi mang theo câu chuyện về mối lương duyên giữa hai tộc người Mông và Lô Lô để kể. Có người nói, câu chuyện này chỉ mang tính huyền sử. Nhưng cũng giống như nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, tôi muốn tin là có thật. Bởi bản thân nó đã là một lời chào, một bài ca về tinh thần đoàn kết, và tính hào phóng của người dân Việt Nam, nhất là khi câu chuyện được cất lên tại điểm đầu, cửa ngõ ở cực bắc của Tổ quốc.

Biết tham vọng của tôi, có lần ông Quý nhắc: ‘Mối lương duyên giữa người Mông và người Lô Lô là mối lương duyên rất vĩ đại. Tại sao? - Trong bối cảnh người Mông bị đánh đuổi, phải bỏ phương bắc để chạy về phương nam, trong tay không một tấc đất, bất chấp sự nguy hiểm đang rình rập phía sau, người Lô Lô đã mở rộng vòng tay, cưu mang người Mông. Chưa hết. Khi người Mông xuống, những vùng đất ở phương nam phần lớn đã có chủ, người Lô Lô đã nhường đất của mình để người Mông có đất sinh sống. Liệu điều này có đáng để trân trọng?’

Từ chuyện ông Quý kể, tôi lần vào thư viện tỉnh Hà Giang và bắt gặp trang sách nói về sự tri ân của người Mông đối với người Lô Lô. Trong quyển văn hóa Mông, một nhà nghiên cứu đã viết đại ý rằng: Để bày tỏ sự biết ơn đối với người Lô Lô vì đã nhường đất, hàng năm, trong lễ cúng đầu năm mới, gia đình người Mông thường thực hiện nghi thức mời cơm tổ tiên người Lô Lô. Đây là một nét độc đáo trong hệ thống văn hóa tín ngưỡng của người Mông ở Hà Giang, bởi ngoài tổ tiên, hiếm khi thấy người Mông thờ cúng những dân tộc khác’.

Đã có lần tôi tỏ ra hoài nghi về những điều đọc được, thì ông Quý bật cười: ‘Dưới chân cờ Lũng Cú hiện còn một bản người Lô Lô. Theo truyền thuyết về mối lương duyên giữa hai tộc người này, sau khi nhường đất, người Lô Lô, người Mông vẫn sống gần nhau. Và mảnh đất sống chung ở địa đầu Tổ quốc này được người Mông đặt tên là Long Cư, nghĩa là thung lũng trồng ngô. Chữ Lũng Cú, có thể do người Kinh đọc trại mà thành. Còn một nhà văn khác đã yêu Lũng Cú theo cách riêng của mình. Trong những bài viết đã công bố, ông này đã thi hóa chữ Long Cư theo nghĩa Hán- Việt, để rồi từ đó Lũng Cú có thêm “núi rồng” và “mắt rồng”.

Đường đến trái tim cả nước

Chuyện về mối lương duyên giữa hai tộc người đã diễn ra từ hàng trăm năm trước, còn bây giờ, địa danh Lũng Cú đã ăn sâu vào máu thịt của người dân Việt Nam. Mỗi ngày, từng đoàn người từ mọi miền đất nước đã vượt cổng trời Quản Bạ, xuống Yên Minh, ngược Đồng Văn, lên Lũng Cú để được đứng dưới bóng cờ Lũng Cú, trái tim cả nước đặt ở điểm đầu cực bắc. Đường nối Đồng Văn - Lũng Cú được trải nhựa, mấy người qua đó đã tường tận việc làm đường?

Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Văn kể rằng, trong một cuộc họp diễn ra vào tháng 10-1977, Ban thường vụ huyện ủy Đồng Văn ra quyết định nối đường để Lũng Cú không còn phải đơn độc ở tuyến đầu Tổ quốc. Con đường dài gần 20 km, nhưng lại được yêu cầu hoàn thành trong hai tháng. Ông Quý thời điểm đó là Phó chủ tịch UBND huyện Đồng Văn, trưởng ban chỉ đạo thi công công trình đã vò đầu trước áp lực tiến độ, bởi những con đường có chiều dài tương tự phải làm mất năm năm mới xong. ‘Cái khó ló cái khôn’, ông Quý kể tiếp: ‘Khi xuống phía Nam, người Mông đã chứng tỏ sự cần cù, thông minh qua việc làm nhà. Mỗi móng nhà người Mông rộng bảy mét, cả gia đình họ cuốc cày một tuần đến mười ngày thì xong. Từ thực tế này, tôi đã chia chiều dài con đường thành những ô dài bảy đến mười mét rồi khoán cho từng hộ. Ngày phát lệnh làm đường nối Ma Lé vào Lũng Cú, cả huyện Đồng Văn rộn ràng hơn ngày có hội”.

Đôi mắt của cụ ông Mã Khái Vừ, người dân xã Lũng Cú như sáng hơn khi được kể lại chuyện xưa. Toàn bộ người dân thuộc nhiều thành phần dân tộc ở 19 xã và một thị trấn của huyện Đồng Văn đã được huy động để thi công. Các hộ dân tham gia công trình đều mang theo cuốc, xẻng, áo mưa, thậm chí có nhà còn dắt theo con cái, gia súc để ngày đêm bám công trình, đẩy nhanh tiến độ.

Ông Vừ kể: ‘Lúc đó nhà nước không trả tiền. Mỗi hộ làm đường được phát gạo. Chúng tôi nấu cơm ăn no thì lăn ra làm đường. Trời mưa thì dựng cán cuốc, căng áo mưa để che. Hết mưa, bà con kéo nhau ra làm tiếp’.

Cảnh nhộn nhịp trên công trường kéo dài được hai tháng thì kết thúc. Hôm hoàn thành mét đường cuối cùng, huyện ủy Đồng Văn đã yêu cầu làm lễ thông xe. Ông Quý kể tiếp: “Nhờ có đường nên Lũng Cú đã về gần với Đồng Văn hơn. Nhưng không lẽ thông xe đi vào đường này mà không nhắm đến cái đích nào cả. Từ suy nghĩ này, anh em chúng tôi đã nhờ dân địa phương chặt một cây sa mộc để cắm cờ, dựng trên đỉnh núi. Cột cờ Lũng Cú đầu tiên ra đời trong hoàn cảnh này, đó là ngày 11-1-1978, trước hôm làm lễ thông xe đúng một ngày’.

Trăm lẻ một cách thể hiện tình yêu

Từ năm 1978 đến nay, cột cờ Lũng Cú đã qua hai lần sửa chữa, xây mới. Trung tá Vũ Ngọc Lâm, chính trị viên đồn biên phòng Ma Lé, đơn vị bảo vệ biên giới và cột cờ Lũng Cú kể tiếp: Đến năm 1989, Tỉnh ủy Hà Giang đầu tư thay thế cột cờ xi măng thay cho cột cờ gỗ dựng năm 1978. Năm 2010, khi Chính phủ có chủ trương xây dựng lại cột cờ Lũng Cú thì trên mạng xuất hiện luồng thông tin, cột cờ bị phá hoại. Biết thông tin này, cán bộ biên phòng chúng tôi mới thấy hết được tình yêu của người dân với cờ Lũng Cú. Suốt ngày hết người này đến người khác đã gọi điện lên đồn để hỏi thăm, nhưng sự thật thì không như lời đồn đoán. Cờ Lũng Cú nằm sâu trong biên giới, đồn biên phòng ở đây thì người ngoài sao dám vào để phá hoại?”

Lần trở lại Lũng Cú mới đây, tôi đã gặp một nhóm sinh viên trẻ đến thăm cột cờ Lũng Cú để làm một đoạn phim ngắn. Trưởng nhóm làm phim tên Long muốn thể hiện tình yêu với cờ Lũng Cú bằng cách dựng lên một huyền sử. Vì thế trong kịch bản có đoạn đồng bào các dân tộc ở dưới chân cờ Lũng Cú đã cùng nhau uống rượu tiết gà, hô vang lời thề bảo vệ cờ thiêng Tổ quốc.

Nhưng với Trung tá Lâm, thì không phải đợi lên phim, đồng bào các dân tộc ở đây mới quyết tâm bảo vệ cờ mà trong cuộc sống hàng ngày, người dân các dân tộc Lũng Cú đã cùng biên phòng đấu tranh, bảo vệ từng tấc đất biên giới. Vào sâu trong nội địa, đồng bào đã phát huy sức mạnh đoàn kết trong quá khứ để phát triển kinh tế. Như ở thôn Ma Xí B, gia đình ông Vừ Sé Cơ đã cho hàng trăm hộ dân trong xã Ma Lé và Lũng Cú mượn bò để nuôi rẻ, tạo điều kiện cho các gia đình vay tiền, mượn ruộng sản xuất để thoát nghèo.

Trong lần nói chuyện với tôi, ông Sùng Đại Hùng, Bí thư huyện ủy Đồng Văn thừa nhận, mặt bằng kinh tế của người dân địa phương chưa cao, nhưng so với toàn huyện thì thu nhập của người dân Lũng Cú, Ma Lé chỉ đứng sau người dân ở thị trấn. Hiện tại, UBND huyện Đồng Văn đang xây dựng đề án để phát triển du lịch ở Lũng Cú. Theo đề án, trước mắt huyện sẽ xin kinh phí đầu tư con đường lên cột cờ. Còn trong tương lai, huyện sẽ đầu tư nhiều điểm du lịch hơn, để đồng bào mọi nơi mỗi lần đến sẽ yêu thêm cột cờ, mảnh đất nằm ở điểm đầu cực bắc.

Có thể bạn quan tâm