Tôi sợ sệt, tò mò nhìn con tàu lớn chuẩn bị nhổ neo, rời cảng Chùa Vẽ, Hải Phòng. Trông nó như con cá voi khổng lồ nuốt chửng cả mấy ngàn người cùng hàng hóa vào bụng. Nó hú còi inh ỏi, rồi lừ lừ rẽ nước rời bến. Bác và chị tôi đứng trên boong, vẫy vẫy. Tôi khóc hờn dấm dứt, bố dỗ thế nào cũng không nín. Bố công kênh tôi trên vai, đi dọc bến, để tôi nhìn theo bác và chị một lúc. Chị Thúy nghển cổ qua lan-can, cũng đang mếu máo khóc. Con tàu cứ xa dần, để lại vệt loang nước mắt của chị em tôi...
Thế rồi mùa hè ấy, bố gửi tôi lên tàu thủy, theo một người bạn thân của bố vào Sài Gòn. Ba ngày đêm lênh đênh trên biển, con bé bảy tuổi say sóng vật vã, vậy mà khi tàu cập bến Nhà Rồng, nhìn thấy bác Tứ và chị Thúy ra đón, cứ tỉnh như sáo sậu. Đặt chân lên mặt đất, tôi thấy mình nhẹ bẫng, bay vút về phía bác và chị tôi. Hai chị em ôm chầm lấy nhau ríu rít.
Chúng tôi được ngồi trên cái xích lô hẹp, cao lênh khênh, chất thêm hai túi hành lý, bồng bềnh trôi trong dòng người tấp nập, qua những con đường rộng thênh, rợp bóng me. Bác tôi đạp xe đi kèm bên cạnh. Sài Gòn ùa vào mọi giác quan của tôi. Từ vòm trời xanh ngắt, nắng phương nam rót mật xuống phố phường rộn rã. Nhiều phụ nữ mặc áo dài tha thướt. Nhà cửa, hàng quán san sát, nhộn nhịp. Dọc đường, tôi để ý thấy hầu hết dấu mũ của các chữ “”, chữ “Ô” trên những biển hiệu mầu sắc tươi tắn đều được vẽ cách điệu thành hình chiếc vương miện.
Con bé bảy tuổi luôn mơ mình là công chúa, nhìn thấy vương miện thì thích mê tơi. Và, chao ôi, mùi Sài Gòn! Cái mùi đậm đặc, ngấu đượm, quyến rũ của những món ăn đường phố, của hoa trái, của nắng gió, của nước hoa, phấn sáp, của cả mồ hôi, nước mắt trộn lẫn vào nhau, quấn bện lấy tôi. Nhưng ngày ấy, tôi chỉ là một đứa trẻ, sao đã thấu hiểu mọi tầng hương mà suốt bao năm, mỗi lần chạm tới Sài Gòn, tôi vẫn cảm nhận nó nguyên vẹn như giây phút đầu tiên. Nó trẻ trung, mạnh mẽ, sống động, tươi rói. Thành phố chan hòa, thắm thiết đón chào tất cả mọi người, mọi miền văn hóa; thu nhận, thẩm thấu, chắt lọc những tinh hoa để tạo thành một bản sắc Sài Gòn độc đáo, riêng biệt.
Nhà bác tôi trong hẻm nhỏ, đầu đường Thủ Khoa Huân, cách cửa bắc chợ Bến Thành mấy bước chân. Căn nhà rộng, sâu hút, một trệt, một lầu. Bếp ở phía sau, có giếng trời thoáng đãng. Bữa cơm đoàn tụ, bác đãi cháu Na món bánh xèo. Tôi thau tháu ngồi chầu bác tráng bánh, nuốt nước miếng ừng ực vì mùi thơm ngậy và mầu vàng ruộm của chiếc bánh mỏng, to tròn, đang reo “xèo xèo” trên chảo nóng đẫm mỡ. Bác rải nhân đều lên mặt bánh, đậy vung lại một lát cho nhân chín. Khi mở vung ra, thấy rìa bánh xém giòn, hơi cong cong điệu đà, bác gập chiếc bánh lại thành hình bán nguyệt, xếp ra đĩa. Những chiếc bánh nằm ghé lưng nhau, chiếc vừa tráng xong vẫn đang nóng hôi hổi.
Bác hỏi: “Bác đố con Na biết vì sao bánh này tên là bánh xèo?”. Tôi dõng dạc trả lời luôn: “Vì nó kêu xèo xèo ạ!”. Thực ra trong ý nghĩ ngây thơ, háo hức, tôi đã thầm gọi tên bánh lúc nghe nó reo vang. Bác tôi cười, gật gù khen: “Đúng đấy! Con Na khôn!”. Với con Na, món bánh xèo bác làm thật đặc biệt, mộc mạc mà thơm ngon vô cùng. Có lẽ vì thuở ấy đất nước vừa đi qua chiến tranh, hầu như nhà ai cũng nghèo, bọn trẻ con thèm nhạt đủ thứ. Bánh xèo vốn là món bình dân, nhưng trong mắt con Na, nó chả khác gì cao lương mỹ vị. Nó đẫm mùi Sài Gòn.
![]() |
Nghe nói bánh xèo xuất xứ ở miền trung, rất phổ biến từ thời Tây Sơn, được dùng thay cơm vào một đôi ngày trong tháng. Cũng có người cho rằng bánh xèo chính là biến tấu của bánh khoái xứ Huế, nhưng nguồn gốc tận miền nam Ấn Độ xa xôi, nhiều thế kỷ trước. Sau này, đi dọc đất nước, tôi nếm đủ loại bánh xèo mọi vùng miền, thấy vị bánh, nhân bánh mỗi vùng lại có chút biến đổi. Ở Nam Trung Bộ, bánh xèo được đổ cỡ vừa phải, khi ăn cuốn cùng bánh tráng. Tiến dần vào phía nam, dân vùng ven biển thêm hải sản cho nhân bánh, chấm nước sốt đậu phộng rang pha mắm ớt sền sệt... Nhưng dẫu thế nào, nhìn thấy bánh xèo, tôi cứ mặc định nghĩ đến ẩm thực Sài Gòn.
Ở Sài Gòn, ta có thể tìm thấy tất cả các món ăn nam, bắc, đông, tây, kim, cổ. Nghệ thuật ẩm thực muôn nơi tụ hội về, được Sài Gòn gia giảm, thấm đẫm mùi vị, sắc hương, hồn cốt của riêng nó. Bột gạo hòa nước dừa xiêm, nước cốt dừa, bột nghệ, trứng gà hoặc trứng vịt, hành lá thái nhỏ. Thịt ba chỉ xắt mỏng, tôm cắt bỏ râu, ướp với chút tiêu, muối, bột ngọt cho ngấm hẵng phi hành mỡ, xào chín. Đậu xanh nguyên vỏ ngâm mềm rồi đồ chín tới. Múc từng muôi bột, láng mỏng trên chảo khi mỡ hoặc dầu ăn đã nóng, nghe tiếng “xèo xèo”, rải lên mặt bánh lần lượt thịt ba chỉ, tôm, đậu xanh và sau cùng là giá sống. Đậy vung chừng ba đến bốn phút, bánh chín đều thì gập đôi lại.
Chiếc bánh chín vàng xuộm, dậy mùi dừa béo ngậy, vị ngọt tôm thịt, vị bùi đậu xanh, vị thanh thanh giá đỗ. Cắt làm ba làm tư, cuộn rau xà lách, rau thơm, chấm nước chấm nhiều vị ngọt, pha từ nước đường với mắm và cốt chanh tươi; tỏi ớt bằm cùng cà rốt thái sợi vắt ráo, thả vào sau cùng. Mâm bánh xèo Sài Gòn đầy đặn, dẫn dụ ta vào “cơn lốc” rực rỡ màu nhiệt đới, mê man, nóng bỏng, ngọt bùi...
Sài Gòn trở thành nơi chốn của tôi. Nơi tôi có bác Tứ, có chị Thúy, rồi sau này có nhiều họ hàng, có bạn bè tôi. Nơi mỗi mùa hè thơ ấu, tôi được trở lại vài tuần, đẫm trong nắng, trong mưa, trong mùi Sài Gòn vấn vít. Hồi ấy, khoảng cách bắc-nam sao mà dằng dặc. Tôi thường đi tàu thủy hay tàu hỏa, chật chội, chen chúc, nằm ngồi vạ vật ba, bốn ngày mới tới. Chị Thúy và tôi hội ngộ mừng mừng tủi tủi. Gần nhau, hai chị em bày ra đủ thứ trò chơi, dí dủm suốt ngày. Tối đi ngủ còn nằm nói chuyện rinh rích quá nửa đêm. “Con Thúy, con Na, giờ này còn không để ai ngủ phỏng!!”. Hai đứa nghe thấy tiếng bác tôi ngoài cửa phòng, nhắc khẽ, nhưng rất nghiêm. Chúng tôi im thin thít, nhưng chỉ được một lúc lại rì rà rì rầm. Bác tôi phải vào tận nơi, quát cho một trận, mới dứt.
Đến ngày chia tay, chị em nhớ nhau, khóc như mưa. Xa nhau, chúng tôi viết thư kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, trường lớp. Gần đây dọn nhà, tôi tìm thấy một vài lá thư của chị Thúy, nét chữ đều tăm tắp. Thư nào chị cũng mở đầu: “Em Na thương nhớ!...”. Chị vẽ một nàng công chúa nhỏ mặc váy phồng, đội vương miện, tay cầm bông hoa, bên cạnh đề chữ: “NA”, và vẽ thêm một mũi tên chỉ vào, ý bảo “đây là công chúa Na”. Sau này, chị Thúy tốt nghiệp khoa Lụa, Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, và theo nghiệp thời trang. Chồng chị làm điêu khắc. Mấy anh chị em hợp chuyện, cứ gặp là vui như Tết. Bác và anh chị chuyển nhà xuống quận Gò Vấp đã lâu. Mỗi dịp vào công tác, xong việc, tôi thường tranh thủ ở với gia đình bác đôi ba hôm, rồi quáng quàng về Hà Nội.
Một ngày, số phận trớ trêu sắp đặt Sài Gòn là nơi xảy ra cái việc khiến tôi bị quật một đòn chí mạng. Tôi bất ngờ, đau đớn, hoang mang, hoảng hốt. Tôi như con ốc bầm dập, sợ hãi, trốn trong vỏ, câm lặng. Kiệt sức, tôi không thể náu đi đâu, chỉ biết náu vào chính mình. Tôi dò dẫm sống, gắng gượng nhích từng bước, chạm chỗ nào cũng sưng tấy, nhức buốt... Sau biến cố ấy ít lâu, tôi phải đi Sài Gòn để xuống miền tây làm việc. Rời máy bay, khoảnh khắc đặt chân lên mặt đất, tôi lại như con chim gẫy cánh, hụt hẫng ngã nhào. Sài Gòn bỗng chao đảo, méo mó, rạn vỡ, u ám trước mắt tôi. Và, chao ôi, cái mùi Sài Gòn! Sao nó trở nên nồng nã, chua chát, đắng cay, làm tôi nôn nao choáng váng đến thế! Nông nỗi nào khiến tôi không nhận ra Sài Gòn, không nhận ra mình nữa?
Sài Gòn là nơi đất lành chim đậu, nhưng cũng bất trắc, rủi ro. Có người được, thì phải có kẻ mất. Được, biết đâu thành món nợ. Mất, đôi khi là sự giải thoát. Không ai có thể lựa chọn hay đánh đổi số phận. Chấp nhận nó như nó vốn có, chấp nhận nó dẫu nó đã khác xưa, là cách để sống với nó. Sau mấy năm tôi mới gặp lại Sài Gòn. Vết thương rồi cũng lành. Không đau nữa. Chiều muộn, vừa xong công việc, tôi thư thả dạo trên nóc hầm Thủ Thiêm. Chị Thúy nhắn tin: “Mấy giờ Na về để chị chuẩn bị tráng bánh xèo?” - “Em đợi bớt tắc đường, chắc hơn một tiếng nữa thôi!”. Gió sông ào tới, cuống quýt lùa vào tóc tôi. Hoàng hôn hắt sáng lên dải mây vẩy ốc lộng lẫy vắt ngang trời. Như có mùi Sài Gòn theo gió quấn riết tôi, bịn rịn. Chao ôi, mùi nhớ của tôi đây! Hóa ra, Sài Gòn luôn cất giữ mùi nhớ ấy. Chỉ là tôi có đủ bình tâm, dọn lòng thanh sạch để lại cảm nhận nó hay không.
