Đó là: học bài bản tại Trường Mỹ thuật Việt Nam; làm họa sĩ tại địa phương trong kháng chiến; làm cán bộ Hội Mỹ thuật, nghiên cứu tại Viện Mỹ thuật, cố vấn cho Quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển một thời; thể nghiệm các hình thức nghệ thuật đương đại; sáng tác hội họa, đồ họa, điêu khắc...
Nhưng biết bao câu chuyện miên man trong nhiều lần gặp gỡ với bà lại như nhắc tôi rằng, những gì thuộc vào hội họa và tinh thần tiên phong trong sáng tạo vẫn là nơi bà gửi gắm suy tư sâu thẳm hơn cả.
Hội họa như là lời phản hồi nhân thế
Đặng Thị Khuê có thể kể lại với người đối diện từng chi tiết liên quan một số tác phẩm đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của bà, bởi chúng luôn nằm giữa giao điểm tranh luận của nhiều câu chuyện nghệ thuật tại thời điểm ra đời. Tác phẩm nhan đề Giặc Mỹ (sơn dầu, 95x115cm, năm 1980) trưng bày thường xuyên tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong số đó.
Được phân công làm cán bộ thông tin tại tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) ngay sau khi tốt nghiệp hệ trung cấp, niên khóa 1963-1966, tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (nay là Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam), Đặng Thị Khuê thấm thía sự tàn khốc của chiến tranh. Những đổ nát vì bom đạn của biết bao làng mạc như lưỡi dao sắc lẹm, lạnh lùng khía vào tâm hồn nhạy cảm của nữ họa sĩ trẻ ở tuổi 20 (bà sinh năm 1946). Trong gia đình bà, người em trai duy nhất cũng trực tiếp ra chiến trường. Đặng Thị Khuê nuôi dưỡng một dòng suy tư về chiến tranh và thân phận người, về sự va chạm, sự đan xen những mảnh đối lập trong nội tâm người khi họ đối diện với bom đạn, với được-mất, đau thương, hận thù và tha thứ...
Khi tham gia tổ chức Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980 với cương vị Thường vụ kiêm Chánh Văn phòng Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhiều dữ liệu thông tin khiến bà thêm dự cảm: Dấu mốc một thời kỳ mới về nhận thức tư tưởng và thẩm mỹ trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình sẽ bắt đầu từ chính sự kiện này. Đó là triển lãm đầu tiên kể từ sau năm 1954 có sự tham gia của các họa sĩ, nhà điêu khắc đến từ ba miền bắc, trung, nam. Đó cũng sẽ là sự kiện nghệ thuật ghi nhận sự giao thoa của đa dạng phong cách tạo hình, ngôn ngữ nghệ thuật và cả những thay đổi trong quan niệm sáng tạo. Hòa bình rồi, câu chuyện nghệ thuật sẽ có nhiều biến chuyển. Chính vì vậy, họa sĩ đã dốc sức trong vỏn vẹn ba ngày được lãnh đạo Hội cho phép tạm dừng công việc sự vụ tại Văn phòng, để sáng tác một bức tranh mang ý nghĩa tổng kết về chiến tranh mà bà hằng nung nấu.
Đặng Thị Khuê gói gần như toàn bộ dòng suy tư chất chứa trong lòng về chiến tranh và phận người. Cụm nhân vật ở giữa được xây dựng với bố cục chặt chẽ, đầy sức lay động và gợi nhiều liên tưởng: người đàn ông vạm vỡ, vai đeo súng, dắt con trâu kéo xe chở một lính Mỹ bị thương; họ xoay lưng lại với nhau; người lính Mỹ hướng mặt về phía người xem tranh nhưng không có cái nhìn ngay thẳng, cương trực. Chung quanh nhóm nhân vật này là một số phụ nữ già-trẻ, gương mặt toát lên vẻ hiền hậu, cả hình ảnh hai đứa trẻ đầu đội khăn tang trắng, nét mặt ngây thơ nhìn theo chiếc xe. Bức tranh phủ trong một màu nâu vàng nhiều sắc độ, nhiều mảng đậm-nhạt để tạo khối và nhấn nhá không gian. Gam màu trung tính này phản ánh đa chiều cảm xúc của các nhân vật trong cùng một khung hình.
Điểm đặc biệt của bức tranh là những nhát, vệt màu lớn, được thể hiện bằng bay vẽ, chứa đựng sự mạnh mẽ trong cảm xúc, dứt khoát trong thái độ đồng thời tạo nên một ngôn ngữ hội họa khác lạ trong bối cảnh mỹ thuật thời điểm đó, dẫn tới một vài ý kiến xét nét và quy chụp về hình thức nghệ thuật... Bức tranh được sưu tập bởi Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và hiện được trưng bày tại khu vực tranh sơn dầu, cho thấy ý nghĩa nội dung và giá trị thẩm mỹ của nó đã vượt qua nhiều cái nhìn hạn hẹp, một thời.
Khát vọng về sự mới mẻ, tiến bộ trong nghệ thuật không chỉ dừng lại nơi giá vẽ của cá nhân họa sĩ Đặng Thị Khuê mà còn dẫn hướng tinh thần làm việc của bà tại văn phòng Hội Mỹ thuật Việt Nam thời điểm ấy. Bà là người có công đóng góp vào việc lần đầu tiên, trong năm 1984, Hội đứng ra tổ chức triển lãm cá nhân cho ba họa sĩ Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái và Nguyễn Tư Nghiêm. Đó đều là các triển lãm cá nhân đầu tiên của họ; với riêng họa sĩ Nguyễn Sáng, là triển lãm cá nhân duy nhất của ông. Đó là những năm tháng không chỉ khó khăn về vật chất của tổ chức Hội mà còn nhiều hơn thế, là khó khăn trong thuận lòng người tuy cùng giới chuyên môn. Giữa những lúc phải cân bằng biết bao luồng ý kiến trong và ngoài giới về việc tổ chức các triển lãm ấy, với tư cách là Thường vụ Hội, họa sĩ Đặng Thị Khuê chỉ nhất mực tâm niệm: Thành quả nghệ thuật cũng như ý chí làm nghề của họ khiến bà tin tưởng; họ đã vượt qua giới hạn mô phỏng hiện thực, đạt tới tầm cách tân ngôn ngữ để tạo nên phong cách độc đáo.
Đến nay, nhìn lại quãng thời gian ấy, bà Khuê không khỏi ngậm ngùi pha lẫn tự hào trước ký ức về “trăm bề khó khăn” không thể gọi tên, về sự liều mạng trong công việc mà đến chính bà cũng không hiểu nổi. Nhưng dự cảm của bà đã đúng; theo thời gian, tài năng và giá trị nghệ thuật của Sáng, Phái, Nghiêm đã có được vị trí xứng đáng trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam.
Mở không gian chứa đựng giá trị thẩm mỹ Việt Nam
Phía sau tất cả những công việc sự vụ của một người giàu tinh thần chia sẻ với đồng nghiệp, sau những háo hức thể nghiệm với nghệ thuật sắp đặt, Đặng Thị Khuê âm thầm tích lũy một sưu tập mảnh ghép thẩm mỹ được chắt lọc từ vốn nghệ thuật truyền thống hòa quyện cùng tư duy tạo hình của cá nhân bà. Bà đồng thời lặng lẽ tìm kiếm phương thức thể hiện chúng sao cho trọn vẹn, làm nổi bật ý nghĩa và giá trị thẩm mỹ Việt Nam.
Rất nhiều phác thảo hội họa về người mẹ, được truyền cảm hứng từ văn hóa các sắc tộc, hay suy tư về thế giới quan và nhân sinh quan mà bà mượn hình ảnh biểu tượng trong văn hóa truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ để bày tỏ, đang từng bước được bà cân nhắc thể hiện trọn vẹn với chất liệu sơn mài.
Tại sao lại là sơn mài? Câu hỏi khiến bà Khuê ngược thời gian về lại ba năm học trung cấp mỹ thuật (1963-1966). Đó là khóa đầu tiên nhà trường đào tạo sinh viên để đi làm cán bộ thông tin tuyên truyền nên sinh viên được làm quen, học qua hầu hết các lĩnh vực hội họa, đồ họa và điêu khắc để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ công tác tốt nhất trong kháng chiến. Duy chỉ có chất liệu sơn mài trong hội họa là nhà trường không có điều kiện đào tạo. Nhưng qua bao năm tháng, ký ức thơ ấu trong những tháng ngày tản cư cùng gia đình nơi đình chùa phủ đầy những hoành phi, câu đối và tượng Phật sơn son thếp vàng vẫn nguyên vẹn trong bà. Còn trong thực tại, những giá trị của hội họa sơn mài hiện đại Việt Nam tiếp tục được khẳng định và bồi đắp bởi các thế hệ nghệ sĩ. Hai điều ấy, như là mưa dầm thấm lâu, làm đầy dần lên mơ ước trong bà là thể hiện được thành tranh sơn mài các phác thảo vốn cũng thấm đượm thẩm mỹ dân tộc; đó sẽ là những bức tranh hội tụ và mở ra không gian đủ đầy phong vị Việt Nam.
Ở tuổi xưa nay hiếm, họa sĩ Đặng Thị Khuê vẫn âm thầm học về sơn mài, tìm kiếm người đồng hành. Phải là người không chỉ lành nghề với sơn mài thủ công truyền thống mà còn có thể chấp nhận đi cùng bà trên hành trình thể nghiệm với chất liệu, chấp nhận vượt qua sự quen tay thuận mắt thông thường. Như là hạnh ngộ, bà đã tìm được một người như thế. “Tôi cứ mải miết đi tìm ngôn ngữ tạo hình mà vừa có thể thâu tóm được nét đặc sắc của thẩm mỹ trong quá khứ vừa thể hiện được tinh thần đương đại, đến quên mất tuổi tác!” - bà nói trong tiếng cười vui.
Nghệ thuật để hiểu và đọc được tâm hồn người. Nhưng muốn làm được điều đó, trước hết, người sáng tạo nghệ thuật phải nâng niu và lắng nghe được tâm hồn của chính mình. Việc này đòi hỏi nhiều thời gian, tri thức và bản lĩnh bên cạnh sự mẫn cảm với người, với đời, mà cuộc đời nghệ thuật của họa sĩ Đặng Thị Khuê như một minh chứng sống động.
Từ 30 năm trước, tác phẩm của họa sĩ Đặng Thị Khuê được chọn giới thiệu tại nhiều triển lãm nghệ thuật quốc tế có uy tín, như Liên hoan nghệ thuật đương đại châu Á-Thái Bình Dương định kỳ ba năm (Asia-Pacific Triennial, năm 1996-1997) do Queensland Art Gallery, Australia tổ chức; A Winding River: The Journey of Contemporary Art in Vietnam (Dòng sông uốn khúc: hành trình nghệ thuật đương đại ở Việt Nam, trong hai năm 1997-1998, tại nhiều bang của nước Mỹ) - triển lãm nghệ thuật Việt Nam đầu tiên tại Mỹ kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, do Trung tâm quốc tế Meridian (Meridian International Center) tổ chức.