Trên đường xuân

Hai tám tháng chạp, cuối cùng anh cũng quyết định đi tậu một chậu mai về trưng Tết. Phải có hoa hòe thì mới ra không khí xuân. Anh lượn đi lượn lại mấy vòng quanh chợ hoa, ngắm nghía, quay bên này bên kia, kỳ kèo trả giá, rồi cũng chọn được một chậu mai ưng ý, hợp túi tiền.

Minh họa | VŨ ĐÌNH TUẤN
Minh họa | VŨ ĐÌNH TUẤN

Người bán phụ một tay bưng chậu đặt lên xe giúp anh, khuyến mãi thêm sợi dây cao su ràng buộc, lắc lắc thấy chắc chắn, rồi bảo: Anh chạy cả ngày cũng không hề hấn chi. Nhưng tính anh vốn cẩn thận, dọc đường về tay phải cầm lái, tay trái ngoắc lui giữ lấy viền chậu mai. Cuối năm cuối tháng, đắn đo mãi mới bỏ tiền ra mua chậu hoa bạc triệu, cẩn thận không thừa.

Vượt qua đoạn đường có mấy ổ gà, anh tăng ga cho xe chạy nhanh hơn chút, đường vắng hoe, miệng anh nhẩn nha mấy câu hát. Bất ngờ anh nhìn thấy một vật nâu nâu, hình chữ nhật ở giữa đường. Lúc ấy anh đã lướt qua nó và tâm trí như chợt bừng tỉnh, anh đưa tay trái tới nắm lấy tay lái, đạp phanh gấp gáp. Chiếc xe trườn theo quán tính rồi dừng đột ngột, chậu mai dồn tới lưng anh và tuột khỏi dây ràng, rớt xuống đường.

Anh buông xe ra, vội vàng chạy bộ quay lại chỗ vật lạ. Chỉ chừng hai chục bước chân thôi nhưng anh cứ luống cuống, có chút hồi hộp. Một cái ví màu nâu, dây kéo phéc-mơ-tuya còn khá mới, loáng qua, anh nghĩ nó không phải là đồ bỏ đi, chắc hẳn ai đó làm rơi. Anh nhặt lên, rồi lóm liếc nhìn quanh như đang làm chuyện khuất tất. May quá, quãng đường này không có nhà dân, giờ này vắng vẻ đến lạ, đã cận kề Tết mà sao người đâu hết rồi.

Nhanh chóng trở lại xe, anh dựng xe lên, nắp yên bật mở, anh cho cái ví vào cốp. Tự nghĩ như chuyện “Tái ông thất mã” năm xưa, rớt chậu hoa chưa hẳn là xui, vì ít ra nhờ thế anh mới bỏ được cái ví vào cốp xe. Trong cốp luôn có cái áo mưa lúc nào cũng thủ sẵn, anh nhét cái ví vào giữa các nếp gấp áo mưa, ngụy trang.

Anh bắt đầu thấy hơi tê tê xương sống, lúc nãy chậu va mạnh quá. Nhưng không hề hấn gì, bằng tất cả sức mạnh tinh thần, một mình anh xốc chậu mai lên được yên xe, chẳng cần ai phụ. Vài chiếc xe máy chạy qua, người ta nhìn anh như để xem có cần giúp đỡ không. Anh mỉm cười gật đầu, ý bảo cám ơn, ổn rồi. Giờ mà có ai sáp tới, chắc anh hơi lo lo, vì anh vừa làm một việc mà anh cảm giác có chút… mờ ám.

Khổ nỗi, cái chậu xi-măng đã không còn nguyên vẹn, nó rạn tứ tung và vỡ một miếng khá to. Giữa đường, những vụn chậu nát ra, cùng với tóe loe những cánh hoa, nụ hoa mai rơi rụng. Cây mai giờ trông xơ xác, mấy nhánh bị gãy, hoa chỉ còn lác đác, những nụ xanh chưa bung lụa cũng bầm dập ít nhiều. Thật uổng công anh cả buổi chọn lựa. Anh định thần, không sao, dù thế nào thì nó vẫn còn là cây mai, nhất quyết không phải cây củi.

Quãng đường về nhà chỉ còn chưa đầy năm cây số, giờ thì không cần phải cẩn thận nâng niu nữa, không còn gì để mất. Anh cố gắng chạy nhanh, nhưng sao vẫn cảm giác đường dài, hay vì anh nôn nóng quá. Cây mai, giờ anh không còn lưu tâm đến nó nữa, anh chỉ nghĩ về cái phía dưới nó, cái trong cốp xe. Lúc nãy anh cầm lên, thấy cái ví cồm cộm, đinh ninh có tiền, kha khá tờ, chắc chắn thế.

Xưa nay anh ít khi nhặt được của rơi. Đúng ra thì có vài lần anh thấy trên đường một vài món đồ, như cái mũ, chiếc kính râm, con búp bê… nhưng anh không nhặt. Bụng nghĩ không phải của mình thì không lấy làm gì, chỉ mất công đem về rồi cũng vứt, để yên đấy có khi ai cần người ta nhặt về dùng. Thế mà hôm nay anh lại hí hửng khi nhặt món đồ, phải vì cái ví thì nó chứa đựng những thứ giá trị hơn, có khi cả gia tài như chơi. Và phút chốc anh thấy mình đớn hèn, khi nhớ lại bộ dạng luống cuống sợ sệt, giấu giấu giếm giếm lúc đặt cái ví vào cốp xe.

Tết đã cận kề, ai cũng vội vội vàng vàng, chuyện rơi rớt là không tránh khỏi, chuyện mất cắp đó đây cũng không ít. Thôi thì, mình không lấy sẽ có người khác lấy, biết người ta thế nào. Còn anh, anh ở đâu giữa lưng chừng tốt - xấu. Và cái ví kia, liệu nó có san sẻ bớt cho anh chút thiệt hại không. Nghĩ đến đấy, tự dưng anh thấy lo lo. Cái lưng đã đau hơn, đau điếng khi xe vừa chạy vào sân nhà.

Gắng chút nữa, anh bê được chậu mai xuống. Giờ anh mới ngắm kỹ chậu hoa, nó đúng là một thứ tanh bành từ đáy lên ngọn. Còn hai ngày nữa đã sang năm mới, thật khó để những búp chưa nở có thể bung vàng rực khoe sắc. Anh mở cốp, lại đưa mắt nhìn quanh bảo đảm không có hàng xóm rình mò, rồi nhanh nhảu cầm cả cái áo mưa đang xếp đi vào nhà.

Bật điện thoại, anh thấy tin nhắn vợ gửi qua ứng dụng Zalo:

“Anh mua được mai chưa? Nếu chưa thì cũng không cần đâu, có ba ngày Tết thôi, bày vẽ tốn kém”.

Anh nhắn lại:

“Có hai tin, một tốt một xấu. Em muốn biết cái nào trước”.

Vợ đang giải quyết nốt mấy việc cuối năm ở công ty nên vẫn online trực tuyến, cô chỉ đưa một hình mặt biểu tượng ngạc nhiên.

“Tin xấu là đây”.

Anh nhắn, rồi gửi ngay cái hình chụp chậu mai. Bên kia vợ chẳng những không tỏ vẻ buồn mà còn thả mặt cười ha ha.

“Chưa tới ba mươi mà người ta đã đập vỡ chậu, quyết không bán phá giá rồi sao?”.

“Anh mua đấy, nhưng chở về bất cẩn nên ra thế”.

“Cũng chưa phải là tin quá xấu. Còn tin tốt là gì?”.

Lúc này anh mới đi chụp ảnh cái ví. Cố ý từ từ để vợ chờ đợi hồi hộp, chính anh cũng hồi hộp.

“Đây. Anh nhặt được giữa đường. Dừng gấp gáp để nhặt nó nên chậu rớt xuống, nát thế đấy”.

“Có tiền ở trong không?”

“Chưa mở”.

“Mở đi”.

“Em đoán xem có không?”.

“Chắc có”.

“Bao nhiêu?”.

“Không biết”.

“Nếu có thì sao?”.

“Ý anh sao?”.

“Lấy luôn hay trả lại cho người ta?”.

Im lặng một lát, vợ nhắn lại:

“Nếu có giấy tờ thì trả lại tất cả ví cho người ta. Nếu không có giấy tờ thì thôi, coi như ý trời, chứ biết của ai mà trả”.

“Nhất trí vậy nhé. Mở đây”.

Anh bắt đầu kéo phéc-mơ-tuya, nó mềm mượt, êm ru. Hai ngăn ví trống rỗng. Ai mà vứt cái ví còn mới như thế cơ chứ, trông lớp da cũng là thứ hàng xịn xò chứ đâu phải đồ đểu.

“Thế nào rồi anh?”.

Bên kia vợ nhắn giục, nhưng anh chưa vội trả lời. Anh như người đang trên trời bỗng tuột xuống, bao nhiêu hồi hộp hân hoan bỗng chốc tan biến. Giờ, trước mắt anh chỉ là hình ảnh cái chậu mai te tua, nó đích thị là lỗi của anh. Bao nhiêu lần thấy đồ rơi đồ rớt ngoài đường đã làm lơ, thế mà lần này dừng lại thì chuốc xui xẻo. Cái lưng lại nhói đau từng đợt, anh nghiến răng chịu đựng, kiểu này khéo Tết phải nằm ở nhà chẳng đi đâu được. Ví ơi là ví, trống trơn.

Nhưng, khoan đã, ở đây còn có một ngăn ví với dây kéo phec-mơ-tuya nhỏ hơn.

Chưa vội kéo khóa, chỉ mới sờ sờ bên ngoài lớp vải đã biết phía trong có tờ bìa cứng cứng, chắc là giấy tờ tùy thân, bằng lái xe ở trong đó. Anh có chút ỉu xìu, chỉ tổ mất công trả lại. Rồi anh kéo cái rẹc, phía trong chỉ có một tờ giấy dày dày, đúng như anh đoán. Nhưng không phải giấy tờ mà là một bức ảnh.

Tấm ảnh đen trắng đã cũ, không ép plastic, chụp đã rất lâu. Thời đó chưa có ảnh màu, nhưng mực in đen trắng cũng rất chất lượng, chẳng cần ép nhựa vẫn lưu giữ được tận đến hôm nay, dù có bị phai nhạt đôi chút. Ảnh chụp một người phụ nữ bồng một bé gái. Phía sau là phông nền hình bông mai cắt giấy và mấy chữ “Tết Nhâm Tý 1972”.

Hồi đó khó khăn, chỉ đến Tết mới được chụp ảnh. Tết thì có áo quần đẹp hơn, khung cảnh cũng tươi tắn hơn ngày thường. Ông thợ đến, chờ các nhân vật ngay ngắn, sửa sang lại chút ít mái tóc, áo quần, rồi hô một hai ba, bấm máy cái cạch, đèn phát sáng. Thế là xong. Bức ảnh đẹp xấu thế nào chỉ tới lúc rửa phim tráng rọi ảnh rồi mới biết. Có khi ảnh in ra thấy mắt người nhắm tít, do chờ chụp lâu quá, hoặc do cái đèn máy ảnh chớp lóa.

Hai người trong bức ảnh không hề nhắm mắt. Họ mỉm cười tươi rói. Cô bé chừng ba tuổi, mặc váy sáng màu, nhìn qua ảnh thì nó là màu trắng ngà, có điểm những bông hoa nho nhỏ. Người mẹ còn khá trẻ, mặc áo sơ-mi trắng quần tây xam xám, mái tóc xoăn lọn bồng bềnh.

Anh nhìn kỹ khuôn mặt hai người trong bức ảnh. Cô bé kia lúc chụp ảnh còn nhỏ quá, bây giờ cũng phải năm chục tuổi rồi. Trẻ con thường có nhiều lần “đổi mặt”, nên chắc chắn giờ đã khác hẳn. Nhưng còn người mẹ, anh thấy quen quen mà chưa nhớ ra ngay. Hình như anh đã gặp đâu đó rồi thì phải.

Anh soi kỹ bức ảnh, ngắm thật lâu khuôn mặt người phụ nữ. Một nét đẹp kín đáo, nhưng ẩn trong đôi mắt có chút gì đó hơi buồn buồn. Phải rồi, đấy là nét mặt anh thường mường tượng về mẹ mình. Bốn mươi năm trước, lúc đó anh sáu tuổi, mẹ đã rời đi đâu biền biệt, từ đó anh sống với cha. Suốt thời gian sau đó, cha không hề kể cho anh nghe điều gì về mẹ, chắc vì cha sợ anh bị tổn thương. Cha dành nhiều tình thương cho anh và rồi cha cũng đã ra đi mấy năm trước vì bệnh nặng.

Ký ức về mẹ của đứa trẻ lên sáu đúng là xa xỉ. Đấy là những bản ghi nhớ đầu đời của một con người và rồi đều bị thời gian làm nhạt nhòa đi. Chỉ có hình ảnh khuôn mặt mẹ là anh vẫn còn nhớ, nhưng không thật rõ ràng, đôi lúc ẩn hiện nhập nhoạng. Thỉnh thoảng trong giấc mơ, anh thấy mình là đứa trẻ được mẹ bồng đi quanh xóm chơi. Anh đưa tay sờ lên tóc mẹ, mái tóc ngắn đờ mi xoăn, bồng bềnh. Anh xoa má mẹ, vuốt sống mũi mẹ từ dưới lên trên, cho đến khi chạm vào mắt thì mẹ tan biến theo giấc mơ.

Thường những khi ấy, ngay khi thức giấc, anh cố hình dung thật rõ ràng khuôn mặt mình vừa thấy, để lúc nào đó có thể anh sẽ vẽ lại, hoặc nhờ họa sĩ truyền thần vẽ theo cách anh miêu tả. Mới đây, anh phát hiện ra trí tuệ nhân tạo AI có thể vẽ mặt người. Anh mô tả những gì anh mường tượng theo các giấc mơ chồng lấn. Trí tuệ nhân tạo đã vẽ giúp anh hàng chục khuôn mặt người phụ nữ, nhưng tất cả đều không phải hình ảnh như anh mơ thấy. Thậm chí, hàng chục khuôn mặt công nghệ vẽ ra ấy làm cho mường tượng về mẹ bị chi phối, xáo trộn. Anh hy vọng một ngày nào đó, trí tuệ nhân tạo sẽ đọc được ý nghĩ, nhìn được giấc mơ của anh và tái hiện ra khuôn mặt mẹ.

Giờ đây cầm bức ảnh, tay anh run run, một chút linh cảm, một sự xáo trộn tâm tư. Anh rơm rớm nước mắt. Rõ ràng bức ảnh này được chụp 5 năm trước khi anh được sinh ra. Mà cuộc đời thì nhiều người có nét từa tựa nhau lắm, thậm chí giống nhau như anh em ruột dù chẳng máu mủ gì.

“Anh nhặt ở đâu thì đem đến thả lại chỗ ấy”. Vợ nhắn tin.

“Sao vậy?”.

“Chớ dại tìm trả trực tiếp. Nhỡ người ta nghi ngờ anh lấy hết tiền trong ví thì sao. Cuối năm cuối tháng đừng chuốc thêm bực bội”.

Anh sững ra, đúng thật vợ nghĩ sâu quá. Ở đời, làm ơn mắc oán xưa nay cũng không ít. Lòng tốt đôi khi bị nghi ngờ cũng là chuyện thường tình. Nhưng bức ảnh kia không thể khiến anh vô tâm như thế được.

Anh lập một tài khoản Facebook ảo, đặt một cái tên lạ hoắc, chọn hình bông hoa mai làm ảnh đại diện. Xong anh vào mấy trang cộng đồng tin tức địa phương, nhập thành viên, rồi đăng tin rao tìm người mất ví.

Hôm nay trên đoạn đường từ Thành cổ Quảng Trị về nhà, tôi có nhặt được một chiếc ví. Ai đánh rơi xin liên lạc theo số điện thoại 0919XXXXXX.

Dòng tin kèm hình ảnh chiếc ví và thòi ra từ đó một góc tấm ảnh đen trắng. Nghĩa là anh vẫn còn biết nắm giữ một nửa bí mật. Ai đó muốn nhận lại ví chỉ cần nói xem bức ảnh chụp gì là xong.

Bài đăng của anh nhanh chóng được hàng chục, hàng trăm lượt chia sẻ khiến anh ấm lòng. Thế là lòng tốt cũng dễ được chú ý và lan truyền, chẳng như ai đó phũ phàng nhận định rằng bây giờ trên mạng toàn mấy thứ giật gân với gây cười vớ vẩn mới được quan tâm.

Giữa buổi chiều, một số điện thoại gọi đến, giọng nữ, xin gặp anh để nhận lại chiếc ví. Nghe qua điện thoại, những lời cám ơn rối rít, anh đoán người ta cũng lịch sự và thật lòng. Anh hẹn người ta gặp nhau ở quán cà-phê gần chợ hoa trước Thành cổ.

Quán vắng, khi anh đến đã thấy một người phụ nữ trung niên ngồi ở đó. Để chắc chắn, anh rút điện thoại ra bấm. Người kia đưa điện thoại lên nghe. Anh kéo ghế ngồi đối diện, ngắm người phụ nữ trước mặt mình, có vẻ cũng giông giống người trong ảnh.

- Thời buổi thông tin nhanh nhạy. Lại may mắn có cậu nhặt được, thật mừng quá.

- Trong ví chị có tiền không ạ?

Buột miệng câu này xong, anh chợt nhớ tới lời vợ dặn hồi sáng. Đúng là anh quá dại dột mới đi hỏi câu đó. Rõ ràng cái ví anh nhặt chẳng có đồng cắc nào, khéo người ta lại nghi oan cho anh lấy tiền. Chị có vẻ hơi đăm chiêu, luống cuống.

- Tôi không nhớ rõ, mà cũng chả đáng bao nhiêu. Hình như chỉ mấy tờ đô-la và ít tiền tiêu vặt.

Đúng là tự anh ghè đá vào chân mình. Giờ chính anh mới là người lúng túng khó xử.

- Chị làm rớt nó ở đâu?

- Chiều hôm qua tôi từ Đà Nẵng ra Quảng Trị khá muộn, mới chỉ đi loanh quanh chợ hoa Thành cổ này. Lúc về khách sạn mới biết mình rơi ví.

- Chị có đi về phía dưới kia không?

Anh chỉ tay theo hướng con đường về nhà mình.

- Không. Tôi chưa đi về dưới đó.

Trông vẻ bề ngoài, cách nói năng thì chị đây chắc cũng người tử tế, không đến nỗi giả vờ để nhận vơ đâu. Anh gật gật đầu như lờ mờ hiểu chuyện, chắc kẻ nào đó đã nhặt được ví, hoặc tệ hơn là móc trộm ví, lấy hết tiền rồi vứt ví đi. Nhưng để xác thực đinh ninh này, anh phải giả bộ.

- Vậy không phải của chị rồi. Trong ví không hề có tiền.

- Tiền không quan trọng cậu ạ, chắc ai đó đã lấy nó. Nhưng bức ảnh trong ví mới quan trọng. Không có nó thì chuyến đi này của tôi chẳng có ý nghĩa gì đâu.

- Ảnh chụp gì vậy chị?

- Ảnh đen trắng chụp mẹ đang bồng tôi, dịp Tết Nhâm Tý. Khi ấy tôi chỉ mới lên ba tuổi, mẹ tôi không có chồng. Sau Tết năm đó là tới “mùa hè đỏ lửa” 1972, bom đạn ác liệt, bà ngoại bồng tôi chạy loạn vào Đà Nẵng, rồi mất liên lạc với mẹ. Tấm ảnh trong ví kia là hình ảnh mẹ duy nhất mà tôi có, do bà ngoại tôi cất giữ. Sau này có người cho biết là mẹ tôi ở ngoài này đã lấy một người chồng khác.

Anh bần thần, mụ mị đi vì câu chuyện chị kể. Như thể có một sự trùng hợp nào đó. Mái tóc xoăn bồng bềnh của người đàn bà trong bức ảnh sao giống mái tóc mẹ anh quá. Anh đăm chiêu, cố lục lại ký ức của mình lúc lên sáu. Anh nhớ mùi hương bồ kết mẹ hay gội, cứ ngây ngây mỗi khi anh bá cổ mẹ. Ký ức chợt sống dậy, một buổi chiều ba mươi Tết năm xưa, nắng hanh vàng, mẹ hong tóc bên thềm nhà. Chỉ thế thôi, anh không còn lưu giữ được gì nhiều hình bóng mẹ.

Anh lấy ví ra đặt lên bàn. Người đàn bà trung niên chưa vội mở ra.

- Cám ơn cậu. Chuyện đời tôi, cậu nghe phiền quá phải không.

- Nếu được, xin chị cứ kể tiếp, biết đâu em có thể giúp.

- À, cũng không có gì nữa đâu. Tôi sống với bà ngoại, rồi lấy chồng, sang Mỹ định cư. Bà ngoại tôi mất rồi. Chuyến này về nước, thắp hương mấy ngày Tết ở nhà ngoại. Tranh thủ ít hôm tôi ra đây, xem có ai biết gì về mẹ tôi ngày đó hay không. Chắc là mò kim đáy bể thôi.

- Rồi chị tính ở đây mấy ngày?

- Lát nữa tôi sẽ quay về lại Đà Nẵng, mồng bốn đã phải bay về Mỹ.

Chị đưa tay lên xem đồng hồ.

- Tiếc quá, không còn nhiều thời gian. Nói cám ơn cậu bao nhiêu cũng không đủ, nhưng thật sự tôi rất mừng.

- Không có gì đâu chị. Coi như chị em mình gặp nhau thế này cũng là duyên. Sau này có tin tức gì chị nhớ báo cho em biết. À, mà chị cho em xin chụp lại bức ảnh, biết đâu em giúp được gì đó.

- Thế thì tốt quá. Chúng ta vẫn cứ giữ liên lạc, cậu nhé.

Anh bật điện thoại chụp lại bức ảnh. Chị mở túi xách, lấy ra một cái bì lì xì.

- Có chút này gửi để mừng tuổi các cháu. Mong cậu nhận cho tôi vui lòng. Chắc tôi sẽ còn quay lại đây.

Chị đặt cái phong bì đỏ vào tay anh. Anh ngần ngại không dám nhận. Họ nắm tay nhau một lúc, thật chặt, rồi chào tạm biệt nhau.

Chị bước ra khỏi quán cà-phê, hướng về phía chợ hoa xuân. Nhìn dáng đi của chị và mái tóc bồng bềnh, tự dưng anh mường tượng hình ảnh quen quen, gần gũi đến lạ. Ngắm xa xa theo cái dáng người ấy, phía chợ hoa những bông mai vàng cứ lòe nhòe, nhấp nháy trong mắt anh.

LỜI BÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG THIỀU

Thật sự tôi không theo dõi diễn biến của câu chuyện mà nhà văn dựng lên. Nhưng tôi lại theo dõi diễn biến tâm hồn tôi. Bao nhiêu câu hỏi vang lên:

- Nếu tôi nhìn thấy chiếc ví đó tôi có dừng xe để nhặt không ?

- Nhặt rồi tôi có giấu đi không?

- Tôi có đặt câu hỏi trong ví có gì không?

- Tôi có sợ có người nhìn thấy tôi giấu cái ví vào cốp xe không?

Ôi, đầu tôi thật sự hoang mang. Và khi chiếc ảnh hiện ra trong ví thì tôi đã thay đổi tâm trạng hoàn toàn.

Sự kỳ diệu của cuộc sống đã hiện ra. Sự kỳ diệu đó đã cứu rỗi nhân vật và cứu rỗi cả tôi. Tôi muốn đi tới tận cùng câu chuyện. Nhưng tác giả đã dừng lại. Mọi chuyện tưởng kết thúc nhưng thật sự nó đã mở ra một cánh cửa khác. Một cánh cửa của những vẻ đẹp nhân tính mà nếu nhà văn kết thúc câu chuyện ở một lối khác thì vẻ đẹp đó sẽ biến mất. Xin nói lời biết ơn nhà văn Hoàng Công Danh.