Nhà thơ & Bài thơ hay

Những phức cảm thơ

Nhận diện một gương mặt tác giả chưa khi nào là một công việc dễ dàng. Và lại càng khó khăn hơn khi tác giả ấy có một lịch sử thực hành thơ luôn biến hóa, năng sản, phong nhiêu. Nhà thơ Lữ Mai là một người như thế...

Ký họa chân dung nhà thơ Lữ Mai của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.
Ký họa chân dung nhà thơ Lữ Mai của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Chị cho ra mắt tập thơ đầu tiên mang tên Giấc (2011) lúc ấy vừa mới ngoài hai mươi tuổi. Cho đến nay, chị đã xuất bản cả thảy 5 tập thơ, 3 tập trường ca (chưa kể một tập truyện ngắn/tản văn, một truyện dài viết cho thiếu nhi...). Và như thế, tham vọng dựng lên một chân dung thi sĩ tương đối trọn vẹn về tác giả trong một bài viết nhỏ là điều bất khả.

Nói thì là thế... Một đường viền chân dung vẫn cứ hiện lên theo cách nào đó.

Có một đặc điểm bao trùm là thơ Lữ Mai không chủ trương bộc lộ rõ chủ đề. Như đã thấy, có một thời mấy chục năm, nền thơ của chúng ta đi theo hướng cứ phải có chủ đề rõ ràng. Có chủ đề thơ mới dễ hiểu, mới phù hợp với công chúng đại trà. Điều này làm thành một quán tính, cho đến tận bây giờ chưa phải đã hết.

Trong khi đó, một tác phẩm thơ đích thực bao giờ cũng có một “hệ chủ đề” quấn quýt, tương thông tương tác với nhau tạo nên sự đa nghĩa, gợi nghĩa - kết quả của thủ pháp “mơ hồ hóa” nghệ thuật (khác với sự tối nghĩa, rối nghĩa, tù mù). Tôi cho rằng, ngay từ đầu nữ nhà thơ đã có ý thức khá rõ về điều cốt tử này. Cho nên, thơ chị nhất quán một chủ trương phá vỡ thế độc quyền một chủ đề, tạo ra những biến hóa đa dạng, nhiều khi phức tạp và ẩn mật.

Một trường hợp trong rất nhiều như thế: bài thơ “Trà sớm”. Nhân vật trữ tình không rõ là cái tôi tác giả hay chính gã trai rừng trong một buổi sớm tinh sương lặng lẽ bên chén trà khi lòng đang mang nỗi buồn đau giông bão về người con gái đi lấy chồng. Một cảnh tượng đột khởi, bất ngờ, chấn động: “đàn trâu rừng đeo mõ thiếc/mùa xuân sấm sét đì đùng/ người e ấp theo chồng/mõ đồng loạt đứt/chớp xanh hàng cúc”. Sau đó, nỗi đau tình dường như được kìm lại, đè xuống, tự trấn áp một cách kiêu hãnh và thống khổ. Nội tâm và ngoại giới bỗng gặp nhau ở một tình thế cô đặc lại, chấn thương: “trước trà/thấy mình lạ/mỏm núi tím kia nhô ra một cái cây/buồn mà không sao chết nổi”. Suốt toàn bài, không câu chữ nào cho biết tác giả là một chứng nhân trước nhân vật chàng trai kia hay là một kẻ đồng bệnh? Có thể cả hai... Bài thơ tinh tế, ấn tượng về khung cảnh miền rừng, trong đời thường của con trai con gái, trong nỗi đau tình. Thế đó, như một chủ trương nhất quán, đi theo cách “mơ hồ hóa” để tạo nghĩa, sinh sôi nghĩa chính là một chiêu thức nghệ thuật mà Lữ Mai lựa chọn.

Đọc thơ Lữ Mai thường xuyên vấp phải khá nhiều những câu thơ lạ, đủ mạnh để neo vào tâm trí: “qua đêm tro cốt rơi đầy tóc/sáng ra trắng bệch mắt nhìn” (Giữa khoảng trống mờ xa); “căn phòng rộng hơn khi tắt điện/gió vuốt gáy ớn lạnh/ô kìa bóng tóc lênh khênh/thêm kẻ bước vào/quên gõ cửa” (Cắt tóc); “tỉnh dậy chẳng tìm ra cặp mắt/ trời đông sang da thịt buồn căng/ cơn mơ lấy đi những điều rất thật/ may ra còn trí nhớ ăn năn” (Mơ lạ); “lá vằng thơm hăng hắc/hoa vằng trắng mền mệt/con êm đềm chõng tre” (Nhà mẹ); “báo cũ gói bình minh/giàn bông giấy bất thình lình lặng lẽ/hồng son nhè nhẹ/môi má ngời hiên trọ” (Từ hẻm gió)... Toàn là những câu thơ biểu tỏ cảm giác với những ngôn từ và hình ảnh mang sắc thái nghĩa mơ hồ, phát hiện và gọi tên những động cựa của các giác quan, thân giác và tâm giác, làm thành các câu thơ cảm giác. Bài thơ nào cũng có. Sợ hãi. Âu lo. Bất ngờ. Chán chường. Cô độc. Nhục cảm. Hứng cảm... Đa trạng thái.

Chị rất mạnh về những câu thơ dạng này. Phải là người có một nội giới căng đầy và cực bén nhạy mới có thể gọi tên lên những trạng thái muôn hình sắc của giác quan như vậy. Đây là một công năng mà tạo hóa không muốn chia đều cho nòi thi sĩ. Và đây cũng chính là nguyên do làm nên những phức cảm tế vi trong thơ Lữ Mai. Làm sao tôi không phải lòng những câu thơ như thế này: “Mắt đẫm sương/đường đẫm bóng/Cốc Lếu ánh nhìn dao quắm” (Mắt đá). Chỉ cần ba câu thơ ít chữ thế này thôi mà đủ dựng lên một địa danh thuộc về thơ, thuộc về nhân học văn hóa bản địa.

Đường thơ của Lữ Mai đã qua một “quãng Kiều” (nhưng không ghềnh thác như Kiều). Ban đầu, với các tập thơ Giấc; Mở mắt rồi mơ; Thời cách ngăn trống rỗng, thơ chị bị hút vào những tâm tình cá nhân, với đủ cung bậc thăng trầm của một người trẻ khi yêu, làm vợ, làm mẹ, làm người mắc kẹt giữa nhân gian. Thơ chị ít biểu đạt cảm giác hạnh phúc, phần nhiều buồn khổ. Mấy năm gần đây thấy có dấu hiệu của sự chuyển dịch: từ chỗ lấy cái tôi làm trung tâm ngả dần sang phía tha nhân; từ không gian căn phòng, nơi ở, góc/hẻm phố, bàn trà, quán cafe mở dần ra không gian núi rừng, biển cả. Chị là người thích đi. Công việc của một nhà báo lại hợp với cái sự đi. Ham đi và ham làm (khác với ham chơi).

Bao nhiêu khung cảnh, nỗi niềm của người và đất muôn phương đã vọng vào thơ chị. Tập Vực trắng phần lớn viết về miền núi phía bắc, một phần cho Huế. Đến tập gần đây nhất có tên Dắt nhau về cũ (2025) như một sự chứng thực cho cái sự ham đi/được đi của chị. Tập thơ gồm 64 bài, mỗi bài ứng với mỗi địa phương để giúp người đọc được “trở về”, về nơi chốn cũ, về với tâm tình và văn hóa ngàn đời. Mỗi bài thơ của chị đủ tinh tế để giấu đi cái ý đồ “ghi chép”, quyết không dính dấp lối “địa phương ca”, vẫn nhất quán ở dạng thơ cảm giác, thơ gợi nghĩa và đa nghĩa. Nhà thơ chủ trương dựng lên những phác thảo nơi chốn qua ấn tượng tâm trí và trải nghiệm đặc sắc nhất của mình. Cá nhân hóa, nội tâm hóa cảnh và người, không gian và thời gian. Nhờ thế, mỗi bài thơ trong tập thơ này, tuy mẩy lép khác nhau, nhưng đều có được cái nhuần nhị, mặn lòng, mến thương của người thơ đối với nước non cẩm tú.

Đọc thơ Lữ Mai xác quyết thêm một điều rằng, thơ đích thực không bao giờ chịu đơn cảm, mà luôn tự bung ra để trở thành phức cảm, những phức cảm thi tính.

Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu 2 bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Lữ Mai

Nguyên Bình (*)

Lá thông sắc
đường kẻ mắt
giả như có phép trừ tà
ta dốc cạn nửa hồn Phia Oắc (*)

cổ tay trắng bẹ ngô già
lục sục đồi nương
hoai mục cánh cung
nghìn mũi tên thoát từ nhà đỏ

cơn mơ trượt xuống chân đèo
huyền tích chẳng làm ta khuây khỏa
đêm về xuôi
tiếng chìa khóa rơi

khe suối nào vừa mở
gầm sàn lăn lóc bí ngô
ai nằm cạnh bầy trăng say ngủ.

________
(*): Địa danh ở tỉnh Cao Bằng.

09b08ea2592ed7708e3f.jpg
Minh họa | TRẦN XUÂN BÌNH

Trà nương

Huế chờ ta tháng ngày củi mục…

Chén ngọc ghìm hơi tiếng thở dài
nửa đời sương phai tóc trắng
lưng lửng giữa dòng
khuôn dáng rưng rưng

người đốt đèn đi trong cơn dông
ai biết ngày từ biệt
một dải lưng xanh nhòe mặt nước
một vết mờ rên xiết gương soi

trà ngấm cạn môi
ai oán hòa ruột đất
người rót lặng im trong vắt
ngọc ngà tan thành quách rùng mình

hương cỏ rung rinh
ngát điều chưa dám ngỏ
trà nương sửa mình dâng lễ
chờ mây về...

3203019139909251791.jpg
Minh họa | TRẦN XUÂN BÌNH