Một thế giới của những lo toan chật chội cơm áo, giá nhà giá xe, cuộc sống vội vã. Và một thế giới do thuật toán dẫn dắt. Khi hàng triệu trẻ em lớn lên trong dòng dữ liệu ấy, câu hỏi đặt ra là, ai đang định hình hệ giá trị của xã hội Việt Nam hôm nay?
1. Tháng giêng, Hà Nội còn lất phất mưa phùn. Bà Thịnh co ro bên rổ quýt và ấm chè chén với kẹo lạc, cái điện thoại đặt lên bàn, ngón tay lướt TikTok thuần thục hơn cả đám trẻ. Bà cười một mình trước clip hài trích từ vở kịch “Đảo hoa hậu”, rồi chợt lẩm bẩm: “Thời nay tụi trẻ con nó sống trên mây”. Câu nói nghe cứ tỉnh queo vậy thôi mà ở trong đó có một nỗi lo sâu thẳm. Sống trên mây thì vui đấy. Nhưng cái mây ấy của ai? Ai dựng nên nó, ai điều khiển nó, ai thả xuống đầu một đứa trẻ mười lăm tuổi những chuẩn mực, những ham muốn, những cơn bốc đồng, những lối nghĩ về giàu sang, sắc đẹp, sự nổi tiếng?
Câu hỏi ấy không còn là chuyện của vài ông bố bà mẹ cau mày vì con cắm mặt vào điện thoại. Nó chạm tới một vấn đề lớn hơn nhiều: “chủ quyền văn hóa số”. Nói giản dị, không chỉ là giữ vài di sản trong bảo tàng, vài câu ca dao hay sự trong sáng của tiếng Việt. Mà là giữ quyền định hình đời sống tinh thần của mình giữa rừng dữ liệu này, giữ quyền quyết định thứ gì được đẩy lên, thứ gì nên chìm xuống, giữ khả năng nuôi dưỡng hệ giá trị Việt Nam khi từng cú vuốt màn hình đều bị các nền tảng xuyên biên giới đo đếm và dẫn dắt.
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt văn hóa vào đúng trọng tâm ấy, đó là xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, phát triển nội dung số và quản trị dữ liệu gắn với chủ quyền văn hóa số. Bởi chiếc điện thoại trong tay mỗi người giờ đã thành cổng vào đời sống. Chỉ cần ngồi ở quán cà-phê, quán phở hay trên tàu điện, ta sẽ thấy một lớp người trẻ đang bàn nhau cách gây chú ý và kiếm tiền thật nhanh trên thế giới ảo. Ảo tưởng giàu nhanh được thuật toán ve vuốt mỗi ngày, hôm nay clip “chốt đơn”, mai màn khoe xe, mốt khóa học làm giàu, rồi một “idol” mặt non choẹt dạy cách sống sang. Cứ thế, như mưa dầm, đến lúc nhiều đứa trẻ tin rằng kiên nhẫn là lỗi thời, học nghề là chậm, còn lao động tử tế thì chẳng ai xem.
Tiến sĩ tâm lý Nguyễn Tuấn Anh (Học viện Thanh thiếu niên) cho rằng, bản sắc cá nhân của thanh thiếu niên chưa ổn định, rất dễ dao động trước phản hồi của đám đông và dễ đồng nhất giá trị bản thân với mức độ được chú ý trên mạng. Cuối năm 2025, Việt Nam có 79 triệu tài khoản mạng xã hội đang hoạt động, tương đương 77,6% dân số. Một xã hội mà phần đông dân số đều đi qua màn hình mỗi ngày thì chuyện hệ giá trị bị thuật toán “sờ” vào không còn là giả thiết nữa. Ta nhìn đâu cũng thấy một thứ văn hóa sốt ruột. Cái gì “viral” thì thắng, còn thứ cần đọc chậm, nghĩ lâu thường bị bỏ lại. Tin phải giật gân, ảnh phải chỉnh app, phản ứng phải nhanh. Chỉ một đoạn cắt ghép vài chục giây cũng đủ để đám đông lao vào phán xét. Một thứ “văn hóa tổng tài” phủ lên giấc mơ của nhiều thanh niên trẻ, giàu nhanh, đẹp, lạnh lùng, tiêu tiền như nước. Đời thực thì kẹt xe, lương ba cọc ba đồng, phòng trọ nóng hầm hập. Trên màn hình, mọi thứ lại sáng bóng đến mức người ta quên cả mùi mồ hôi của chính mình.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh gọi không gian mạng là một chiến trường giấu mặt. Không bom rơi đạn nổ, mà vẫn có thể làm méo mó, làm tàn tật tâm hồn, làm thân bại danh liệt một con người. Ông nói thế không hề quá. Chỉ cần một lời đồn, một clip giả, một đợt bầy đàn kéo tới, cuộc đời một người có thể sụp đổ. Đau ở chỗ, cái ác trên mạng thường “mặc quần áo” của trò vui. Nó cười cợt, nó chế ảnh, nó đu trend, nó tiện tay bấm chia sẻ, rồi quay đi như không.
Tiến sĩ Hà Thanh Vân thì cảnh báo một lớp sâu hơn, đó là sự đồng nhất hóa trình độ thưởng thức văn hóa. Thuật toán thích cái dễ hiểu, dễ gây sốc, dễ lặp lại. Thế là những gì chậm, sâu, nhiều tầng nghĩa bị gạt ra bên lề. Một dân tộc mà lớp trẻ lớn lên giữa dòng nội dung như vậy, lâu dần có thể mất đi khả năng thưởng thức những giá trị cần chiều sâu văn hóa. Mất dần thôi. Như việc một bác sĩ nội trú lên “Ai là triệu phú” không biết “Tây Tiến” là thơ hay văn xuôi, trong khi đám trẻ thuộc vanh vách mấy bản nhạc cover từ Douyin. Như một bé gái biết hết filter làm đẹp nhưng không nhớ nổi một câu Kiều. Nghe có phần chua chát.
Nếu chỉ xem đây là chuyện đạo đức thanh thiếu niên thì vẫn còn nông. Vấn đề nằm ở an ninh văn hóa. Dữ liệu người Việt đang chảy qua các hệ thống đặt máy chủ ở nước ngoài, được xử lý bằng thuật toán do bên ngoài thiết kế. Thị hiếu, nỗi sợ, thói quen xem gì, thích gì… đều trở thành dữ liệu hành vi. TS Hà Thanh Vân gọi đó là một dạng tài nguyên văn hóa chiến lược. Ai nắm dữ liệu ấy không chỉ nắm thị trường quảng cáo, mà còn có thể dự báo và dẫn dắt dòng chảy cảm xúc xã hội.
Chuyên gia an ninh mạng Ngô Minh Hiếu, tức Hiếu PC, nói gọn mà lạnh người, nguy cơ trên mạng giờ không chỉ là nội dung độc hại hay bắt nạt trực tuyến mà còn là lừa đảo online rất “nhà nghề”, và thanh thiếu niên là nhóm dễ tổn thương nhất. Cả UNICEF và UNODC (Văn phòng Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm) đều cảnh báo đánh cắp danh tính, bắt nạt mạng, phơi nhiễm nội dung độc hại, thậm chí xâm hại tình dục và lừa đảo xuyên biên giới. Những cảnh báo ấy không ở đâu xa, nó nằm ngay trong chiếc điện thoại của mỗi người.
2. Muốn giữ được chủ quyền văn hóa số, phải nhìn vấn đề ở nhiều tầng. Theo chuyên gia Ngô Minh Hiếu, về pháp lý, các nền tảng xuyên biên giới đang hoạt động mạnh tại Việt Nam nhưng không thể đứng ngoài trách nhiệm pháp luật. Cần buộc họ có đại diện pháp lý rõ ràng, phối hợp xử lý vi phạm, gỡ nội dung độc hại kịp thời và minh bạch hơn về cách thuật toán đề xuất nội dung, quảng cáo nhắm mục tiêu, nhất là với trẻ em và thanh thiếu niên. Việt Nam đã hình thành khung pháp lý ban đầu về Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, về quản lý thông tin trên mạng và Luật Dữ liệu. Điều còn thiếu là cơ chế thực thi đủ nhanh và đủ mạnh để theo kịp cách vận hành của các nền tảng toàn cầu.
Tầng thứ hai là giáo dục. Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, không thể chỉ nhắc trẻ em “dùng mạng cho lành mạnh”. Các em cần được học cách đọc hiểu truyền thông số, nhận diện tin giả, hiểu cơ chế thao túng cảm xúc của thuật toán, biết vì sao những nội dung gây giận dữ hay kích động lại dễ lan truyền. Anh gọi đó là “sức đề kháng tâm lý số”, một dạng miễn dịch tinh thần trước môi trường mạng.
Tầng thứ ba, theo quan điểm của Tiến sĩ Hà Thanh Vân, là kinh tế và sáng tạo nội dung. “Chủ quyền văn hóa số” không thể tồn tại nếu nội dung Việt yếu ngay trên sân nhà. Cần hỗ trợ các nhà sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa, số hóa thư viện, bảo tàng, kho tác phẩm nghệ thuật và xây dựng những nền tảng nội dung Việt đủ hấp dẫn để người trẻ tìm thấy giá trị trong chính văn hóa của mình.
Cuối cùng là tầng văn hóa. Nhà văn Sương Nguyệt Minh cho rằng, một xã hội không thể chỉ chống cái xấu mà phải nuôi dưỡng cái đẹp. Cần những biểu tượng văn hóa số mới, những người ảnh hưởng có chiều sâu, những sản phẩm giải trí vừa hiện đại vừa mang bản sắc Việt. Khi đó, câu hỏi không còn là làm sao kiểm soát internet, mà là chúng ta có đủ nội lực để định hình không gian văn hóa của mình hay không.
3. Một buổi tối ở trung tâm phường Sài Gòn, đường xe kẹt cứng. Bình, một cậu shipper dựng xe bên lề đường, tranh thủ vừa đợi đơn vừa xem clip. Trên màn hình là một thế giới chạy rất nhanh, với đủ hỉ nộ ái ố từ yêu cho đến ghen, từ chửi bới cho đến các trào lưu giàu nhanh sống vội. Ở dưới lòng đường, đèn đỏ vẫn còn hơn chín mươi giây. Cậu trai ấy, hay bà Thịnh bán chè chén buổi sáng, mấy đứa học sinh ở quán phở, cả chúng ta nữa, đều đang sống giữa hai thế giới chồng lên nhau như thế. Một thế giới thật, có mùi mồ hôi, mùi phở, mùi nước hoa lẫn mùi rác bẩn, có mẹ già chờ con về ăn cơm, có tiếng rao khuya, có tiếng gió thổi qua rừng nhiệt đới, có cả cái lạnh cắt da ở miền núi khi người ta run tay bấm mở Facebook. Và một thế giới ảo, nơi mọi thứ được làm cho sáng hơn, nhanh hơn, dữ hơn, gây nghiện hơn.
Biên giới bây giờ không chỉ nằm ở đường chân trời hay cột mốc. Nó nằm trong dòng dữ liệu. Trong thuật toán gợi ý. Trong cái cách một đứa trẻ mười ba tuổi hiểu thế nào là đẹp, là thành công, là đáng sống. Giữ được chủ quyền văn hóa số, rốt cuộc, là giữ cho những đứa trẻ ấy mai này vẫn còn biết mình đến từ đâu, nói bằng thứ tiếng gì, rung động trước điều gì, và vì sao giữa rừng nhiệt đới ảo này, con người vẫn cần một nơi để trở về...
Chủ quyền văn hóa số không chỉ là ngăn nội dung xấu độc, mà còn là quyền giữ cho một xã hội không bị người khác âm thầm viết lại giấc mơ của mình. Khi lệ thuộc vào thuật toán ngoại, ta dần mất quyền ưu tiên cho những giá trị có ích với cộng đồng, cái ồn ào sẽ lấn át cái tử tế, nhận thức xã hội dễ bị thao túng, và bản sắc văn hóa sẽ mòn dần. Đó là lý do câu chuyện này phải được nhìn bằng con mắt quản trị quốc gia.