Làng quê anh xa xôi lắm, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong hộ khẩu, trong lý lịch từ đời cụ kỵ của anh đã không ghi chữ gì về làng huống hồ tới đời anh. Ngoại trừ anh, chẳng ai biết rằng anh cũng có một ngôi làng nhỏ, nơi xửa xưa tổ tiên anh đã lam lũ dựng đình chùa, khai phá những bãi bồi ven sông. Và biết đâu đấy, trong câu ca dao, trong câu hát cổ có vài câu được người làng anh sáng tác, bên con sông ấy bao năm vẫn một cái bến nước chân cứng đá mòn.
Mẹ anh, bố anh, cả ông nội, ông cố của anh chưa hẳn đã biết về làng cổ của mình. Chẳng phải ai quên nguồn cội mà họ hàng anh đã rời cái làng cổ xưa ấy ra đi gần 600 năm rồi, trong khi gia phả may lắm chỉ ghi chép chuyện chục đời đổ lại mà thôi.
Người ta thường có lệ chỉ thờ độ bốn năm đời, tin rằng sau đó người xưa đã tái sinh, chuyển kiếp, về chốn bồng lai tiên cảnh. Chao ôi, cái làng xa xưa ấy anh cũng có biết chút gì đâu. Anh chỉ biết chuyện làng của anh hiện tại, cũng cổ kính vô cùng, ngót nghét dăm trăm năm tuổi chứ ít gì đâu. Mỗi xuân, mỗi Tết anh ghé về qua thắp hương cho tổ tiên bà con dòng tộc. Qua chiến tranh điêu tàn, làng hứng nhiều bom đạn, chỉ vài câu ca dao sót lại là nguyên vẹn hơn cả nhưng thế hệ bây giờ cũng chẳng thuộc nhiều.
Trong một lần về thăm làng, anh hỏi ông của mình: “Làng chúng ta có lịch sử hơn 500 năm, vậy trước đó chúng ta ở đâu?”.
Ông ngẫm nghĩ một hồi lâu, thở dài mà bảo: “Ông cũng chẳng biết nữa. Lâu quá rồi, khi đó tổ tiên chúng ta là ai, chúng ta còn không nhớ nổi nữa là!”. Thế đấy, lịch sử có những khoảng tối, những điều chỉ còn là huyền sử và những truyền thuyết.
Nhưng khi ông thắp hương lên bàn thờ dòng tộc, lại quay ra bảo: “Trong gia phả của chúng ta có ghi tên cái làng xưa, nơi gần 600 năm trước chúng ta đã ra đi con ạ. Nhưng làng ấy từ lâu chẳng còn. Trải qua gần 6 thế kỷ, biết bao đổi thay, tên nước còn biết bao lần đổi chứ chẳng phải riêng tên của làng mình. Chỉ biết tên làng ta như thế... mà nằm ở bên kia sông Cầu như thế... Nhưng bây giờ làng còn không? Tên làng là gì? Thuộc địa phương nào, không ai biết được”.
Rồi ông lại bảo: “Hoàng ơi! Ta chỉ nghe quan họ là biết nhiều điều hơn về làng cũ của mình thôi”.
Bẵng đi năm tháng trôi qua với những mùa hoa gạo đỏ, Hoàng lớn lên và mọi người cũng già đi cho đến khi câu chuyện về ngôi làng cổ chẳng còn ai nhắc tới nữa.
Có lần Hoàng nằm mơ thấy mình biến thành con chim nhỏ bé và cô đơn. Buổi chiều mùa xuân, con chim ấy cứ bay mãi bay mãi. Trên cao, con chim thấy một dòng sông nước chảy thì thầm trong các làng quê. Sông thức dậy thở ra sương khói. Bên lở bên bồi, những mái đình và gốc tre hòa lẫn vào nhau một màu thắm đượm trong ánh bình minh chấm phá xa gần.
Trên những con đường nhỏ người nông dân đội nón dắt trâu ra đồng. Con trâu hẵng còn ngái ngủ cứ đứng mãi chưa chịu xuống đồng. Ai đó đánh xe ngựa đi mua ngói về lợp nhà. Họ là hai cha con trong một gia đình cuối xóm. Tết năm nay có mái ngói mới, cơm mới, mâm cỗ cúng tổ tiên. Cậu bé ngồi trên lưng ngựa, người cha cầm cương, chiếc xe lóc cóc đi trong sương mai.
Chợ quê nghiêng xuống những mái tranh và mấy người mẹ già chít khăn mỏ quạ, hàm răng nhuộm đen nụ cười ngọt như chè đậu. Chợ bán nhiều trầu cau lắm. Cuối năm làng có mấy đám cưới. Đám trai tráng đi làm xa, tranh thủ cuối năm về làm đám cưới. Các cụ già lận ít tiền trong túi gài kỹ kim băng để làm quà cho cháu. Vàng năm nay tăng giá, nhưng gái đến thì phải lấy chồng chờ sao được tới sang năm? Nhà gái bán đàn gà và cả một cái phản gỗ cũ, mua tặng cho con đôi bông tai, nhưng bà bảo và sẽ tháo đôi bông của bà làm quà. Biết sống được đến năm nào. Món quà cưới truyền đời chẳng cho cháu thì cho ai? Năm nay được mùa, lúa đồng ta hạt đầy mùi thơm thoảng, lại có giống nếp xưa mẹ mới sinh con ăn vào nhiều sữa.
Mấy người đi chợ sớm vội xuống đò. Xe đạp xe máy, lại có cả người đi bộ quang gánh nữa. Chợ huyện bên kia sông, ấy thế mà đi sớm đông chật mấy chuyến đò. Lọ lem với những hoa quả, rau củ.
Nghe nói cuối năm nay sẽ thông qua cái phà lớn chở một chuyến hết nửa làng mình qua chợ huyện, nhưng dự án ấy cũng đang nằm trên giấy vì một dự án làm cầu tiếp tục được cất nhắc từ lâu. Làng ta bé nhỏ quá, làm phà thì thiếu làm cầu lại thừa. Trên đê nhiều trâu béo tốt đang ra gặm cỏ. Mỗi lần qua chợ huyện chỉ cần xua trâu bơi một lúc là đã tới nơi, chẳng phải thuyền phà gì bất tiện. Lũ con cái học hành, nhà cửa sửa chữa, lại cưới xin giỗ chạp trông cả vào đàn trâu.
Từ trên cao, con chim nhỏ thấy một bãi lầy khổng lồ ven sông nơi vô số cò vạc đang làm tổ bên dòng sông cổ đại. Có câu “Đất lành chim đậu”, ấy hẳn là làng của nó thôi.
Con chim nhỏ bay lượn một vòng rồi đậu xuống rặng tre bên đình. Những con chim làng ta và cả làng bên về trú ngụ nhận ra khách lạ phương xa. Tiếng chào hỏi nhau ríu rít trên cành.
*
Những cơn mưa bụi mùa xuân làm anh đi lạc đường, nhưng anh có tìm đường đâu mà lạc, cứ đi thôi. Anh đi tìm ngôi làng nào anh thích, anh thấy đó là làng mình. Nhưng đi mãi, đi mãi không biết chốn dừng chân, hay là làng nào cũng muốn dừng chân cả. Những người mẹ già bán rau muống dưới hàng cây bảo: “Cậu muốn tìm ai?”. Lại có người hỏi: “Cậu tìm họ hàng? Người quen?”. “Ồ! Đi tìm người yêu phải không cháu? Có ảnh đưa xem sẽ biết con cái nhà ai”.
Cháu không tìm ai cả. Cháu đi tìm làng của mình.
“Ra thế. Làng cháu tên gì? Cháu không biết à”. “Làng cháu có đình, chùa nổi tiếng gì không? Cũng không à”. “Làng Hoàng có ai nổi tiếng, lưu danh thiên cổ không? Lại cũng không có à. Vậy sao tìm được”.
Có một điều cháu chắc chắn, làng cháu nằm bên kia sông Cầu.
“Biết rồi, biết rồi. Cái này yên tâm, chắc không thay đổi đâu. Xưa nay chẳng làng nào bên này bờ sông lại hóa thành bên kia sông. Nhưng cháu biết sông Cầu dài bao nhiêu cây số và có bao nhiêu làng?”. “Làng Hoàng nằm bên kia sông, nhưng cách sông bao xa? Đấy, dãy núi xanh biếc kia cũng nằm bên kia sông”.
Ôi thôi! Vậy cháu chào cả nhà, cháu đi tìm theo lời mách bảo của trái tim thôi ạ.
Ừ. Trái tim của nó đã thuộc về bên kia sông Cầu rồi. Biết làm sao được. Hãy gọi cho cháu nó một chuyến đò ngang.
Hoàng đi qua những cánh đồng hoa đã thu hoạch bán mấy ngày Tết hẵng còn sót lại những gốc đào, bụi quất không ai mua. Lễ hội làng xong ngổn ngang gò đống, người người đã kéo sang làng bên tham dự lễ hội mới. Anh cũng ghé vào đền Bà Chúa Kho vì nghe bảo bà giữ giúp của cải trong thiên hạ, khi nào cần kíp bà sẽ lại đưa cho, ấy là hình thức ngân hàng cổ xưa nhất của quê anh. Hoàng thăm viếng đền thờ các vị Quốc phụ, Quốc mẫu và nhiều danh tiếng lẫy lừng... Mới biết nơi đây mỗi làng quê là một sự tích, mỗi ngọn núi, mỗi khúc sông là một câu chuyện lịch sử bi tráng nghe từ sáng đến chiều chưa hết chuyện thần tiên.
Anh đi giữa những làng quan họ và tự hỏi đâu là làng của mình? Hay làng anh chẳng ai biết hát, chỉ quanh năm tất bật với ruộng đồng, một thời khố rách áo ôm, chỉ mong cơm đủ ăn, con cái có cái khố, cái váy đụp mà mặc? Có thể lắm chứ. Nếu làng anh giàu có thì làm sao gần 600 năm trước mọi người phải bỏ xứ mà đi. Hẳn làng của Hoàng phải là cái làng nghèo nhất ở xứ sở truyền thuyết này rồi. Những người đốt than, gánh củi ngoài kia, những người đàn bà lặn lội mò cua bắt ốc, phải chăng họ là tổ tiên của anh còn lại? Ai nắm giữ mọi bí mật của làng và anh sẽ ở lại đây cùng mò cua bắt ốc trọn đời chăng? Hay cũng lại theo dòng người cứ ra Giêng lại tỏa đi tứ xứ làm ăn, để lại trên đường làng những cụ già tóc bạc phơ và những đứa trẻ lơ mơ chưa mọc tóc.
Thật ra Hoàng chẳng tìm ai cả, cũng chẳng tìm làng của mình. Anh đi tìm chính anh trong mùa xuân, giữa những lễ hội, những trò chơi và những câu hát triền miên suốt tháng. Tháng Giêng là tháng ăn chơi. Nếu giờ ở trong miền nam, hẳn anh đã đi du lịch đó đây, hoặc cắm đầu cắm mặt vào công việc chạy theo doanh số chỉ tiêu và phấn đấu trả góp mấy thứ đồ xa xỉ vừa mua hồi trong Tết. Trên một chiếc xe Vespa cổ bác anh cho, Hoàng la cà từ làng này qua làng khác. Điện thoại reo, anh báo bận. Kìa mùa xuân vừa sang, hoa gạo đã nở đỏ một góc rừng.
Hoàng vẫn chờ ai đó, chắc là vậy. Thỉnh thoảng, dừng chân bên vệ đường, ngồi uống nước chè chén dưới gốc đa, anh mở tin nhắn xem. Tin gia đình, bạn bè, người thân, đủ cả. Chẳng hiểu đợi tin nhắn gì? Nhìn qua sông vẫn thấy mênh mang khói sóng, bèo dạt mây trôi, nương dâu ai bỏ hoang cỏ dại xanh um. Con thuyền quên khách, người lái đò đang mải hát ở hội Lim.
“Anh đang ở đâu?”.
Tin nhắn số lạ. Vẫn đoán được là ai. Anh chờ tin nhắn này đã lâu lắm rồi.
“Anh đang ở quê”.
“Vậy à! Ở nam à?”.
“Không, ở bắc”.
“Sao bảo quê trong nam”.
“Ừ! Trước là quê nam mà giờ quê bắc”.
“Thế à! Không hiểu”.
“Cuộc đời không có cái gì là dễ hiểu”.
Làm sao mà hiểu được chứ. Người trong cuộc còn không hiểu được nữa mà. Anh đang đi giữa quê mình, nhưng lại chẳng biết nên dừng chân ở đâu. Cuộc đời mãi lang thang rồi. Cứ sống bất định chỉ vì những câu chuyện thần thoại nửa hư nửa thực. Đi tìm, mà chẳng biết tìm để làm gì. Ví thử, anh tìm được làng mình, liệu anh có sống ở nơi ấy không? Hay chỉ về một lần cho biết. Có còn hơn không?
“Em nhắn tin cho anh có việc gì không?”.
“Không. Em yêu anh”.
Sao lại có thể ngắn gọn như thế. Sao lại đường đột như thế. Và sao lại vào lúc này.
“Anh đang ở quê. Lâu lắm rồi không gặp em. Em như thế nào? Nghe nói bây giờ em phá sản à? Trắng tay rồi à?”.
“Đúng thế. Em chẳng còn gì anh ạ, ngoài tình yêu”.
*
Thế đấy, anh cũng trở về ngôi làng 600 năm trước chẳng còn gì, ngoài tình yêu. Những đàn cò, đàn vạc dẫn anh về, theo triền đê đổ xuống cánh đồng, nơi bãi lau sậy vẫn um tùm và những bụi cây xác xơ vì chim đậu trĩu cành. Tiếng chim xao xác, nghe đến phát mệt. Âm thanh làng quê đưa anh rời xa những tiếng xe cộ, âm thanh điện tử nơi thị thành.
Anh Tấn, người làng, gầy gò, hiền hậu và thân thiện như quen nhau từ muôn kiếp trước. Anh đứng nhìn đàn cò về, đàn vạc lại đi. Cuộc sống của loài chim cũng chăm chỉ như người, chúng có quê hương để về, bên đình làng mới tu sửa vài năm.
Anh Tấn bảo: “Lúc còn nhỏ anh có nghe ông cố kể chuyện rằng làng ta mấy trăm năm trước có cuộc thiên di vào miền trung, miền nam. Gia phả không ghi vì nhiều lý do, nhưng trong họ ai cũng biết cả. Nay Hoàng về lại làng, thắp hương cho tổ tiên dòng họ, âu cũng là có một cái duyên. Anh cũng được biết những câu chuyện huyền sử đều là có thật. Anh em ta gặp nhau, sau hơn 5 thế kỷ, là điều hy hữu lắm”.
Hai anh em đi vòng quanh đình, điểm lại, dòng họ của Hoàng ở làng chỉ còn 21 nóc nhà. Đàn ông đi xa, đàn bà đi gần, làm ăn tứ tán, trong làng còn lại ít người già trẻ em. Mỗi năm giỗ họ một lần, chỉ mấy mâm mời cả người nhà lẫn quan khách các họ khác. Cái họ của Hoàng giờ neo đinh, ít người nhất trong làng, trong xứ, tiếng nói không trọng lượng như các dòng họ khác. “Điều an ủi là tổ của chúng ta được thờ trong đình làng, là thần thành hoàng khai phá ra làng này em ạ”. Hoàng kể: “Làng ở trong nam cũng thờ tổ họ chúng ta làm thành hoàng. Xem ra tổ tiên chúng ta thích đi đây đó mà lập nên những ngôi làng mới”.
Năm tháng đã qua đi, bao mùa xuân cũng qua đi, điều còn lại nơi đình làng là những bước chân của hai anh em bịn rịn lần đầu tiên gặp nhau mà như quen biết từ lâu. Anh Tấn nói: “Hôm nọ anh đào cái vườn cất nhà cho con trai, đào được một cái hũ, trong đó đựng toàn tiền xưa đã mục nát cả. Chắc tổ tiên muốn để lại điều gì đó cho hậu thế mà chúng ta lại không biết, khi biết được thì muộn rồi”.
Hai anh em cân chỗ hũ tiền cổ thấy được hơn 10 kg, hẳn xưa họ hàng cũng phong lưu giàu có, lại biết tiết kiệm, cẩn thận chi tiêu nên mới chôn ngần ấy tiền ở gần nhà thờ họ. Nhưng biết đâu đấy, tiền mới tiêu bao nhiêu cũng hết cả, chỉ còn tiền cũ nát mà lại lưu đến tận bây giờ. Anh Tấn bảo: “Em cầm một nửa mà vào nam, giữ làm cái lộc”. Hoàng đáp: “Em xin vài đồng làm kỷ niệm thôi. Anh giữ lại để con cháu được biết công ơn người xưa”.
Mâm cơm chiều bên dòng sông Cầu sương trắng tỏa bay. Con thuyền ai kia đã về đậu dưới bến đa. Nhưng con chim mỏi cánh tìm về nơi trú ngụ.
“Em thấy không, những cánh én đã về khi cánh đồng làng ta lại xanh mướt như chưa từng qua bão lũ. Mùa xuân về và em cũng đã về. Cứ rảnh, em lại ra thăm làng nhé. Làng vẫn đợi em về”. Anh Tấn nhắn nhủ khi hai anh em đến đầu làng.
Hoàng lên chiếc xe Vespa cổ, đi lên đê. Triền đê xanh thẫm nghiêng xuống đình làng. Dòng sông Cầu như một dải khăn lụa mềm mại uốn lượn lúc ẩn lúc hiện.
Hoàng đi ngược hướng đàn chim trời. Chim kéo về làng tìm giấc ngủ muộn thì anh theo trăng mà đi. Mặt trăng mọc giữa làng quê anh xanh mướt và trăng cũng nhuộm ánh lên một màu xanh lá mạ.
Có tin nhắn: “Anh vẫn ở quê à? Quê anh ở đâu, cho em về cùng. Em yêu anh”.
Dừng chân nhắn lại: “Anh yêu quê. Một ngày nào đó anh sẽ đưa em về quê anh”.
Lời bình của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Tôi đã thật sự tham gia vào cuộc đi tìm lại ngôi làng của nhà văn Trần Nguyễn Anh. Đây là một cuộc hành hương kỳ vĩ tìm về nguồn cội cho dù chỉ là cuộc hành hương của một cá nhân con người.
Có hai hiện thực trong cuộc hành hương này. Hiện thực thứ nhất: thời gian đã thay đổi mọi thứ. Trần Nguyễn Anh có thể sẽ không tìm thấy được ngôi làng xưa của mình. Càng đi, nhà văn càng rơi vào mông lung và như vô định. Hiện thực thứ hai ngược lại với hiện thực thứ nhất. Càng mông lung thì nhà văn lại càng đến gần ngôi làng của mình. Bởi cuối cùng nhà văn Trần Nguyễn Anh đã tìm thấy ngôi làng của mình. Một ngôi làng nguyên vẹn mà thời gian không thể tàn phá một chút gì. Đó chính là tình yêu của con người với nguồn cội của mình. Chỉ có tình yêu như thế mới gìn giữ được ngôi làng ấy, gìn giữ được nguồn cội ấy.