Thành công từ mô hình "bốn nhà"
Năm 2005, những khu công nghiệp, cụm công nghiệp xuất hiện trên địa bàn tỉnh, đã khiến diện tích đất nông nghiệp ở Ninh Bình từ chỗ hơn 100 nghìn ha/hai vụ xuống còn khoảng 80 nghìn ha/hai vụ lúa. Các huyện trong tỉnh đều quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn. Câu hỏi lớn đặt ra: làm thế nào bảo đảm an ninh lương thực cho gần một triệu người ở địa phương, bảo đảm đời sống nhân dân ổn định?
Tại các địa phương như huyện miền núi Nho Quan, vùng bán sơn địa Yên Mô và vùng biển Kim Sơn, thị xã Tam Ðiệp là vùng sản xuất lúa không gặp thuận lợi. Tình tháng thiếu lương thực tháng giáp hạt, gặp thiên tai bão lụt luôn rình rập. Mỗi năm cần hàng chục nghìn tấn lương thực cứu đói cho vùng khó khăn, hộ nghèo, gia đình chính sách, v.v. khiến tỉnh Ninh Bình tìm giải pháp đưa giống lúa lai trồng trên đồng ruộng để nâng cao sản lượng lương thực quy hạt hằng năm của địa phương. Giai đoạn 2006 - 2010, trên đồng ruộng xuất hiện hàng loạt giống lúa lai có năng suất cao, đó là Phú Ưu 1, Phú Ưu 978, CNR 5014, Thục Hưng 6, My Sơn 4, v.v. Bằng các chính sách hỗ trợ của tỉnh cho nông dân về giá giống, phân bón, bảo vệ thực vật, lúa lai dần chiếm lĩnh diện tích canh tác trên đất hai vụ lúa. Với tính năng vượt trội bởi sức đề kháng sâu bệnh, chịu hạn, thời gian sinh trưởng ngắn cho nên các huyện trong tỉnh càng đưa nhanh giống lúa lai trồng đại trà. Huyện miền núi Nho Quan, nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sản xuất bấp bênh mạnh dạn đưa lúa lai chiếm tới 70% diện tích canh tác vụ đông xuân. Huyện Gia Viễn vốn chịu ảnh hưởng nặng về lũ tiểu mãn đối với diện tích canh tác ngoài sông Hoàng Long cũng đưa diện tích lúa lai chiếm 65% diện tích, còn vùng ven biển Kim Sơn diện tích lúa lai chiếm hơn 50%. Việc tăng diện tích lúa lai giúp Ninh Bình bảo đảm an ninh lương thực, bởi năng suất lúa lai ở các huyện đạt khoảng 70 tạ/ha vụ đông xuân, 65 tạ/ha vụ mùa. Nhờ đó, hằng năm, nâng sản lượng lương thực quy hạt toàn tỉnh khoảng 500 nghìn tấn/năm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chăn nuôi và một phần dự trữ đề phòng thiên tai. Tuy nhiên, giống lúa lai cũng bộc lộ những hạn chế, đó là giá trị hàng hóa trên thị trường không cao (chỉ đạt mức 26 - 27 triệu đồng/ha mỗi vụ trong khi chi phí sản xuất chiếm gần 20 triệu đồng), mặt khác, lúa lai không thể làm giống trồng năm sau, làm cho sản xuất không chủ động nguồn giống, chất lượng giống không được kiểm soát, phụ thuộc vào các công ty nhập khẩu.
Từ năm 2010 đến nay, Công ty TNHH vật tư nông nghiệp Hồng Quang xây dựng đề án đưa giống lúa chất lượng cao vào trồng đại trà và xây dựng mô hình "bốn nhà" giúp nông dân sản xuất giống lúa chất lượng cao QR1. "Công ty chúng tôi cung ứng giống, phân bón cho nông dân rồi cam kết với họ sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm khi thu hoạch với giá cao hơn giống lúa khác 1,2 đến 1,3 lần" - Giám đốc Công ty TNHH Vật tư nông nghiệp Hồng Quang Phùng Văn Quang nói. Khi công ty đưa giống về huyện, thậm chí xuống các HTX đều có sự cam kết về chất lượng, chuyển giao quy trình sản xuất từ thời vụ gieo trồng đến kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ thực vật rồi xây dựng mô hình trình diễn, mở lớp tập huấn đầu bờ giúp nông dân nắm vững kỹ thuật. Mặt khác, công ty còn cam kết nếu nông dân trồng lúa chất lượng cao QR1 theo đúng kỹ thuật mà bị mất mùa thì công ty bồi thường thiệt hại cho người sản xuất.
- Vậy vai trò của nhà khoa học? Tôi hỏi.
Giám đốc Phùng Văn Quang trả lời: Viện Di truyền nông nghiệp giúp chúng tôi rất nhiều và từ thực tiễn đồng ruộng đã giúp các nhà khoa học không ít kinh nghiệm bổ ích. Vai trò của nhà khoa học ở Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam là chọn tạo giống, xây dựng quy trình sản xuất rồi huấn luyện nông dân, khuyến cáo người sản xuất tuân thủ nghiêm những quy định về kỹ thuật áp dụng vào việc trồng lúa chất lượng cao. Khi sản xuất giống thành công thì giống lúa chất lượng cao thuộc về bản quyền của nhà khoa học Viện Di truyền và Công ty TNHH Vật tư nông nghiệp Hồng Quang. Chính vì gắn với quyền lợi và trách nhiệm cho nên không ít nhà khoa học thường xuyên về Ninh Bình để khảo sát, nghiên cứu, chỉ đạo kịp thời gắn nông dân với khoa học kỹ thuật. Bằng phương pháp này, nhà khoa học không tốn diện tích gieo trồng khi nghiên cứu một chủng loại giống mới, không cần lực lượng lao động giản đơn để trực tiếp thực hiện các quy trình sản xuất.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình Trần Văn Bách cho biết: Thực tế sản xuất lúa chất lượng cao ở Ninh Bình cho thấy vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan là rất quan trọng. UBND tỉnh Ninh Bình giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các nhà khoa học khảo sát và quy hoạch đồng ruộng. Ðồng thời, xây dựng khung giá giống, phân bón, bảo vệ thực vật, công chăm sóc để tỉnh có chính sách hỗ trợ giá giống cho nông dân. Cụ thể, UBND tỉnh hỗ trợ giá giống 15 nghìn đồng/sào mỗi vụ (khoảng 420 nghìn đồng/ha mỗi vụ). Những giống lúa chất lượng cao được khuyến khích phát triển bao gồm QR1, LT2, Bắc Thơm số 7. Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ kinh phí đối với cán bộ kỹ thuật ở các huyện, thị xã trực tiếp làm nhiệm vụ theo dõi, chỉ đạo nông dân tại cơ sở với mức một triệu đồng/người mỗi vụ. Còn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp nắm địa bàn, kiểm tra, giám sát nông dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật do nhà khoa học xây dựng.
Bí thư Ðảng ủy xã Khánh Thành (Yên Khánh) cho biết: Các đảng viên từ chi bộ cơ sở đến đảng ủy cấp trên đều có trách nhiệm vận động người thân trồng lúa chất lượng cao. Ðảng ủy chỉ đạo, giám sát các quy trình kỹ thuật được hướng dẫn, trong đó coi trọng về kiểm tra các khâu làm đất, nước tưới, tiêu, phân bón, bảo vệ thực vật cho đến khi thu hoạch, chế biến bảo quản sản phẩm của nông dân. Nhờ đó, diện tích trồng lúa chất lượng cao không ngừng được mở rộng tại cơ sở.
Năm 2010, diện tích trồng lúa chất lượng cao ở Ninh Bình chỉ đạt 24,29%, năm 2012 nâng lên 41% và vụ đông xuân 2013, lúa chất lượng cao chiếm khoảng 45% trong tổng diện tích gieo trồng ở địa phương, giải quyết hai vấn đề cơ bản cho Ninh Bình, đó là bảo đảm an ninh lương thực và nâng thu nhập cho nông dân từ gần 30 triệu đồng/năm (2005) lên 70-80 triệu đồng/ha mỗi năm (2012) vì sau khi thu hoạch lúa chất lượng cao, nông dân Ninh Bình còn sản xuất vụ đông với nhiều loại nông sản giá trị là khoai tây, lạc, đậu tương, ngô.
Ðể lúa chất lượng cao "đứng" vững ở Ninh Bình
Ðể lúa chất lượng cao "đứng" vững trên đồng ruộng Ninh Bình thì "bốn nhà" phải tuân thủ nguyên tắc về quy trình sản xuất. Nhất là đối với nông dân chú trọng khâu gieo trồng đúng thời vụ, chăm sóc, bảo vệ thực vật theo hướng dẫn của nhà khoa học. Mặt khác, tỉnh Ninh Bình cần sớm quy hoạch vùng sản xuất, diện tích sản xuất sao cho mỗi vùng chỉ bố trí gieo trồng một loại giống lúa nhất định vừa tránh lẫn giống, vừa thu hoạch trong cùng một thời điểm. Trước mắt, nên ưu tiên sản xuất ở những diện tích có hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu theo thời gian sinh trưởng của cây lúa. Ðồng thời, cán bộ khoa học kỹ thuật từ tỉnh đến cơ sở cần đẩy mạnh ứng dụng các biện pháp kỹ thuật về thâm canh từ khâu làm đất, phân bón, gieo cấy, nước tưới, chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh phù hợp từng loại giống, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, tập quán canh tác của nông dân ở từng vùng. Chủng loại giống lúa chất lượng cao trong cơ cấu chưa nhiều trong khi việc lựa chọn giống để đưa vào đồng ruộng lại phụ thuộc tập quán canh tác từng vùng. Các giống lúa Bắc Thơm số 7, LT2 trồng ở huyện Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn hạn chế. Một số giống lúa chất lượng cao chưa phù hợp thổ nhưỡng của các huyện Nho Quan, Gia Viễn cho nên năng suất chưa cao như ở một số vùng trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, một vấn đề đặt ra là cần xây dựng cho nông dân tính độc lập tự chủ trong sản xuất bởi sản xuất giống lúa chất lượng cao hiện nay trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đang được Nhà nước hỗ trợ, nếu đến năm 2015 khi chương trình đạt mục tiêu đề ra Nhà nước sẽ không còn sự hỗ trợ giá mua giống, thì nông dân có gieo trồng nữa không?
Liên tiếp trong ba năm sản xuất giống lúa chất lượng cao QR1, LT2, Bắc Thơm số 7 ở Ninh Bình đã khẳng định tính vượt trội hơn giống lúa khác thể hiện năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế, giúp Ninh Bình bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao thu nhập cho nông dân.