Xóm lò đất trăm năm
Dưới ánh nắng ban mai rọi xuống khu phố Đầu Doi, xã Hòn Đất, không gian nơi đây bao phủ bởi một màu đặc trưng của đất: từ vàng óng ánh đến nâu trầm, xám bạc. Từng là thủ phủ với hơn 200 hộ đỏ lửa quanh năm, xóm lò đất nay chỉ còn lại dăm bảy hộ kiên trì bám trụ. Trong số đó, cơ sở của anh Lâm Bảo Sơn (42 tuổi) được xem là ngọn lửa lớn nhất còn duy trì ổn định.
Với anh Sơn, nghề làm lò đất không chỉ là kế sinh nhai mà là di sản của người mẹ Khmer để lại. “Nghề này đã hơn 100 tuổi, bắt nguồn từ bàn tay khéo léo của người Khmer biết gắn bó với đất, với lửa”, anh tâm sự. Để ra được một mẻ lò bền chắc, người thợ phải trải qua quá trình cực nhọc kéo dài hơn nửa tháng. Từ khâu chọn đất ruộng sâu dẻo mịn tại Hòn Quéo, trộn đều, xây nhuyễn bằng máy đến việc nắn cửa lò, phơi nắng và nung bằng tro trấu suốt ba ngày đêm.
Ngồi lọt thỏm giữa những dãy lò đang chờ khô, chị Trần Thị Bưởi (36 tuổi) thoăn thoắt đôi tay vuốt lại khuôn đất. Hơn 20 năm gắn bó, chị xem việc lấm lem bùn đất là niềm vui: “Cực thì có cực, nhưng được ở nhà làm nghề của ông bà, thấy thoải mái lắm”.
Dù vậy, nỗi trăn trở về thị trường vẫn luôn hiện hữu. Khi bếp gas, bếp điện dần chiếm ưu thế, lò đất Đầu Doi phải lặn lội theo chân anh Sơn đi về tận Bạc Liêu, Cà Mau để tìm đầu ra. Ông Lê Văn Lệ, một nghệ nhân đã giải nghệ, bùi ngùi nhớ về thời hoàng kim khi ghe thương lái đậu kín bến sông. Nay, dù ánh hào quang xưa đã nhạt, nhưng niềm tin rằng kho cá bằng lò đất vẫn thơm ngon nhất, vẫn là động lực để những người như anh Sơn tiếp tục phủi tro, đỏ lửa mỗi ngày.
Nghệ thuật trên từng sợi lát
Rời tiếng xây đất ở Hòn Đất, chúng tôi về xã Định Hòa, tỉnh An Giang nơi những cánh đồng lát xanh mướt bao quanh nhà bà Thị Em (60 tuổi). Ở đây, nghề dệt chiếu là một hình thái nghệ thuật tinh xảo.
Chiếu Khmer không chỉ là vật dụng để nằm mà còn là vật phẩm văn hóa không thể thiếu trong các dịp lễ Chôl Chnăm Thmây hay cưới hỏi. Bà Em tự hào giới thiệu những mẫu hoa văn đặc trưng: Mặt gối trang nhã, Mắt me tinh tế với những hình elip đối xứng, hay Long mia mềm mại như vảy rồng trải dài suốt tấm chiếu.
Mỗi chiếc chiếu là sự hòa quyện nhịp nhàng của hai người thợ: một người xỏ lát, một người thọt khuôn. Dù một cặp chiếu dệt tay công phu có giá từ 400.000-500.000 đồng, nhưng bà Em vẫn trăn trở khi các con bà đều chọn làm công nhân thay vì nối nghiệp.
Chị Hồ Kim Chi, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Định Hòa, cho biết Hội đã nỗ lực hỗ trợ vốn và quảng bá sản phẩm tại các hội nghị nhưng khó khăn về nguyên liệu và thu nhập thấp vẫn là rào cản lớn. “Chúng tôi mong có những chính sách hỗ trợ cụ thể hơn để giữ gìn nghề truyền thống này”, chị Chi chia sẻ.
Đưa bánh truyền thống vươn xa
Nếu lò đất và chiếu lát đang chật vật giữ nghề, thì nghề làm bánh truyền thống của người Khmer tại xã An Biên lại đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Tại gian bếp của bà Thị Hận, mùi thơm của lá dứa, đường thốt nốt và đậu phộng luôn ngào ngạt.
Món bánh dứa (bánh rây-Ọm chiếl) của bà Hận không chỉ nổi danh trong phum sóc mà còn từng đạt huy chương vàng tại các lễ hội bánh dân gian Nam Bộ. Để có chiếc bánh ngon, người thợ phải có kỹ thuật rây bột điêu luyện sao cho viền bánh giòn mà ruột vẫn dẻo.
Điều đáng mừng là thế hệ trẻ như chị Thị Thanh (con dâu bà Hận) đã bắt đầu ứng dụng công nghệ để tiếp nối nghề. Thay vì đợi khách đến nhà, mẹ con chị chủ động bán hàng qua mạng xã hội, nhận đơn sỉ đi TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. “Được mẹ dạy làm bánh, tôi rất thích. Vừa giữ bản sắc, vừa có thu nhập ổn định”, chị Thanh hào hứng.
Theo lãnh đạo xã An Biên, địa phương đang phối hợp để xây dựng sản phẩm OCOP cho các loại bánh truyền thống. Việc gắn kết di sản với thương mại điện tử và du lịch đang mở ra hướng đi bền vững, giúp văn hóa ẩm thực Khmer không chỉ sống mà còn vươn xa.
Những nghề thủ công truyền thống của đồng bào Khmer tại An Giang đang đứng trước những ngã rẽ khác nhau. Có nghề âm thầm bám trụ, có nghề đang nỗ lực đổi mới. Nhưng dù ở trạng thái nào, những đôi tay khéo léo ấy vẫn đang ngày ngày dệt nên bức tranh văn hóa đa sắc màu. Họ không chỉ làm ra sản phẩm, họ đang gìn giữ phần hồn của dân tộc cho thế hệ mai sau.