Nhọc nhằn mưu sinh

Phía sau ánh sáng phồn hoa

Ðồng hồ báo 23 giờ, tôi dắt xe ra khỏi nhà và nổ máy xuống phố. Gió thổi mạnh như muốn vít những ngọn thông sà thấp. Bầu trời nặng tựa một chiếc chảo thiếc úp xuống thành phố. Mưa rây dày hạt, những trận mưa cao nguyên gần như kéo dài thâu đêm suốt sáng do ảnh hưởng từ những cơn bão xa. Ðã từng quen với vùng khí hậu này gần hai chục năm và mặc dù đã trang bị khá "dày" từ đầu đến chân nhưng tôi vẫn cảm thấy gai ốc nổi khắp da thịt, buốt như kim châm từ trong dạ buốt ra. Mặt đường loang loáng nước.

Ánh sáng của những bóng đèn đường mầu vàng đùng đục trong màn mưa càng tạo thêm cảm giác vắng lạnh. Vào giờ này, trên các đường phố xa khu trung tâm chỉ còn dập dìu vài đôi tình nhân khoác vai nhau đi dưới tán dù. Vài chiếc xe hơi mang biển kiểm soát ngoại tỉnh lượn lờ tìm chỗ cho cuộc chơi mới "giã rượu". Ðôi ba cô gái phấn hoa "hết thời" đứng dựa lưng dưới cột đèn ngáp vặt, ngóng khách. Số phận các cô cũng đơn độc, hiu hắt như những ngọn đèn đường trong đêm gió lạnh, mưa dầm.

Những con đường lượn qua những rừng thông và những khu vườn ngoại vi thành phố càng khuya càng vắng lặng. Dân làm vườn Ðà Lạt ngủ sớm vì lạnh và cũng do thói quen, sau 23 giờ ít có nhà nào còn sáng đèn. Chỉ còn những khu vườn của họ vẫn lung linh nối  tiếp nhau  như hội hoa đăng,đó là những ngọn đèn kích thích sinh trưởng cho cây trồng trong nhà lưới, nhà kính. Thỉnh thoảng, trên các ngã ba, ngã tư, những chiếc xe tải cồng kềnh và những thương lái lầm lũi chất rau, hoa để chuẩn bị xuôi hàng về chợ Cầu Muối, chợ Bình Ðiền, chợ Thủ Ðức, chợ nông sản Ngã ba Bình Phước và các tỉnh miền trung cho kịp phiên sáng.

Ðồng hồ chỉ con số 12, vũ trường Chezmoi, vũ trường lớn của khách sạn Hải Sơn vẫn nhộn nhịp tiếng người, vẫn chát chúa điệu nhạc. Xin phép mấy nhân viên bảo vệ, tôi ghé mắt qua cửa. Trong màn khói thuốc đặc quánh, những đôi chân trần vẫn cố tỏ sức bền trong cuộc chơi bạt mạng. Ngả nghiêng trên bàn là rượu Tây, bia ngoại, là những trận cười xé đêm, những lời cãi vã và những cái khạc nhổ. Người ta nói cũng đúng, dám bước qua cánh cửa thấp lè tè này, thì phải dám đốt một đêm cả triệu bạc.  Trong đó, có nhiều cậu ấm, cô chiêu ở tuổi học trò mà tôi có thể khẳng định là chưa bao giờ cầm cây chổi quét nhà. Thế mà, chỉ vài tiếng đồng hồ đã có vài triệu bạc bị mấy cái má búng ra sữa ấy đốt vèo theo những cái lắc đầu ngoáy mông vô thức.

Bên kia đường, ở góc bến xe nội thành hay khu phố Hòa Bình là những quán nhậu vỉa hè đang lúc sôi động. Tiếng cụng ly, tiếng văng tục, và thỉnh thoảng là những cú túm áo cãi vã rồi vác ghế đuổi nhau loạn xạ. Ðêm của sự phồn hoa, đêm của đời sống hưởng thụ xô bồ càng ngẫm lại càng thêm cay đắng. Ðối ngược với cảnh trên là một số người đang lầm lũi dưới những tán dù, dưới những bóng nón lá mỏng manh. Họ đang đứng, đang ngồi ở những khoảng ánh sáng đìu hiu trong màn mưa lạnh. Họ tạo dựng cuộc sống bằng những đêm triền miên thức trắng. Ðêm của họ nhọc nhằn với những đôi quang gánh đè lưng. Hình ảnh của những người lao động nghèo ấy thật lương thiện, tôi thấy họ thân thiết biết chừng nào.

Ðêm trắng nhọc nhằn

Ðã nhiều lần tôi gặp em, thằng cu Lỳ xứ Quảng. Bộ quần áo nhàu nát, mái tóc bù xù, vầng trán nổi u bướng bỉnh. Mẹ biệt xứ, cha lấy vợ khác, Lỳ gần như bị bỏ rơi. Rời xứ vào đây đã gần năm năm, bắt đầu tìm đường mưu sinh là xách hàng thuê, rửa bát thuê, rao bán mỳ gõ. Có lúc bí quá thì ăn cắp vặt. Bị đánh nhiều hóa ra lỳ đòn từ đó nhận luôn biệt danh, lâu dần người trong chợ cũng quên mất tên cúng cơm của em.

Tuổi thơ của Lỳ và nhiều bạn bè em là những tuổi thơ đã bị đánh cắp. Ðêm nay, tôi lại gặp em với đám bạn bốc vác ở chợ. Chưa đến một giờ sáng, chưa đến lúc khuân hàng, mấy anh em, chú cháu túm tụm bên hông chợ lầu làm xị rượu với mấy miếng khô đuối chát như củi mục. Cu Lỳ và đám bạn của em nhìn tôi bằng cái nhìn không mấy thiện cảm. Hóa ra, họ không nhìn tôi mà đang nhìn lên bộ quần áo ấm áp, đôi giày da lạnh lùng...

Chợt hiểu ra, tôi ngồi bệt xuống nền xi-măng ẩm ướt, bẩn thỉu. Sau ly trà nóng, câu chuyện cởi mở và thân thiện dần. Ngồi bên cu Lỳ là thằng cu Tít. Mấy năm trước, em là đứa trẻ bụi đời hành nghề ăn cắp vặt, ảnh của Tít thường bị treo lên cổng chợ cho người ta nhận mặt để cảnh giác túi tiền. Nay thì khác, Tít đã đĩnh đạc là anh phu khuân vác, bình đẳng với mọi người. Ðối với người khác, đó là chuyện tầm phào vì cái nghề vác hàng thuê thì có gì là "vinh quang", nhưng với cu Tít thì là cả "một vấn đề lớn". Em đã phải đấu tranh biết bao lần để tránh cái thói "ngựa quen đường cũ", rồi cũng nhờ sự giúp đỡ của mọi người, nhất là các chú trong Ban quản lý chợ và công an phường. Tôi thật mừng cho em...

Trầm ngâm ngồi không nói không rằng, nhưng khi tôi vừa giơ chiếc máy ảnh lên thì phất tay cản lại. Người đó là Hải, Trần Mạnh Hải, quê ở xã Quảng Long, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. "Có đẹp đẽ, vui vẻ gì đâu mà chụp! Ðây, xin tả bức chân dung của tôi: Làm nghề này gần hai mươi năm, ở thuê nhà trọ một tháng 500 nghìn đồng. Mỗi đêm bốc mấy chục bao hàng, mỗi chuyến 70 kg được trả 2.000 đồng. Vợ vẫn sống nhăn răng và hai đứa con vẫn được đến trường hằng ngày". Ðồng hương với Hải là Tình.

- Mỗi đêm em kiếm được bao nhiêu? Tôi hỏi.

Nhìn lơ đãng ra khoảng đường trước mặt, Tình nói:

- Cũng như anh Hải, mỗi đêm em vác khoảng hai tấn hàng quần áo đồ cũ. Em mới vào Ðà Lạt tám tháng, cùng bốn người bạn thuê nhà trọ bên khu Mả Thánh, ăn cơm bụi. Bố mẹ em ốm đau, mấy đứa em còn nhỏ, túng lắm anh ạ. Mỗi tháng em cố dành dụm gửi về nhà độ 300 nghìn đồng.

Ở chợ đêm này, có mấy chục con người còng lưng vã mồ hôi với những bao hàng leo mấy chục bậc cầu thang trong đêm trắng như Tình, như Hải và cả những đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi ngủ như Tít, như Lỳ. Tôi tạm biệt họ trong tâm trạng ngậm ngùi, dù không dám nói lời chia sẻ vì sợ động vào nỗi niềm của những người phu khuân vác. Họ là những người lao động chân chính, với mồ hôi của mình, họ đang mưu sinh bằng lòng tự trọng và tính lương thiện.

Trời bắt đầu chuyển dần sang sáng. Bình minh, mưa và lạnh được đánh thức bởi tiếng động cơ xe máy mỗi lúc một ồn ào của những thương lái mang rau ra chợ sớm. Họ làm rau cho kịp chuyển về vùng huyện và các tỉnh gần. Tôi ghé vào quán cóc của dì Hà dưới mé hiên chợ uống ly sữa đậu nành. Dì Hà năm nay gần bảy mươi tuổi, nói rặt giọng Huế gốc: "Tui vô đây từ năm 1950. Bán ở chợ đêm ni gần 50 năm rồi đó". Nửa thế kỷ lấy đêm làm ngày, dì lọ mọ ra chợ từ 8 giờ tối đến 5 giờ sáng. Ly cà-phê hai nghìn, ly sữa đậu nành hai nghìn rưỡi. Khách của dì là mấy anh khuân vác, mấy chị bán rau, mấy ông bảo vệ chợ trực đêm, mấy bác xe thồ đợi khách...

"Sương gió, bão bùng chi tui cũng không bỏ chợ, chỉ khi mô ốm liệt giường thì con cháu thay cho dăm bảy đêm. Khi mô bỏ trần gian thì tui mới bỏ được chợ đêm, bữa mô không ra bán được là nhớ nhớ lạ!". Dì Hà vừa trò chuyện vừa cười móm mém. Mé tây chợ, ba chị hàng rau vừa làm hàng vừa trò chuyện rồi cười nắc nẻ. Lân la lại gần, cả ba chị đều không nói chuyện làm ăn mà rặt chuyện tiếu lâm. Có lẽ, với những người lao động trong đêm buốt giá, chuyện tiếu lâm giúp họ vượt qua nỗi lam lũ, nhọc nhằn, vượt qua cơn buồn ngủ chực kéo díp mắt thì phải.

Ở chợ đêm này đêm cũng chẳng khác gì ngày. Dưới màn mưa chưa dứt, mới hai giờ sáng mà tiếng dao chặt rau, chuốt rau, tiếng nói, tiếng cười, tiếng chửi thề văng tục, tiếng í ới tính toán bán mua rộn rã. Dưới chân cầu thang vào chợ lầu, người và hàng đã nhộn nhịp hơn khi những chuyến xe máy, xe tải nhỏ nối nhau từ vùng huyện lịch kịch kéo lên. Chè, chuối từ Lâm Hà; mít, dứa từ Di Linh; cá từ Ninh Thuận; thịt lợn, thịt gà từ Ðức Trọng, Ðơn Dương, Bảo Lộc. Những chuyến hàng đến Ðà Lạt từ hàng chục, hàng trăm cây số. Thời gian trong ngày của những con người ấy không máy thu hình, sách báo, không thư giãn, nghỉ ngơi. Ngày gom hàng từ vườn, từ vựa, tối lại vượt mưa gió, đèo dốc đường dài ra chợ cho kịp phiên bán mua...

Hạnh phúc nhọc nhằn

Người phụ nữ làm hàng rau một mình bên hông chợ tên Thúy, quê ở  Hà Tây. Chị cùng chồng là anh Ðức mang mấy đứa con nhỏ rời quê vào Ðà Lạt từ năm 1997. Thuê phòng trọ vùng ven cho rẻ tiền rồi chạy chợ nuôi con ăn học. Ngày ngày, anh chị đi đến tận nhà vườn mua rau, 11 giờ khuya mang hàng ra chợ làm cho kịp giao xe mối lúc hai giờ sáng. Ðêm nào cũng thức trắng, không quản gió mưa, hai vợ chồng lầm lũi vắt sức.

Thế nhưng, trong câu chuyện, tôi không hề thấy ở họ một lời than vãn. Có lẽ, niềm hạnh phúc của ông bố bà mẹ ấy là được hy sinh cho tương lai của những đứa con. Từ những búp súp lơ, bắp cải trên đôi tay gầy guộc của người mẹ tảo tần, hằng tháng đắp đổi đủ tiền ăn học cho cô con gái đầu đang là sinh viên tại TP Hồ Chí Minh và hai đứa nhỏ học lớp 6, lớp 10. Dì Hà bán đậu nành cũng luôn cười tươi vì từ những ly sữa rẻ tiền của dì những đứa con, đứa cháu đã khôn lớn, trưởng thành.

Dì Hà bảo rằng, bây giờ không còn khó khăn như hồi trước, cháu con cũng khuyên nghỉ bán, nhưng dì vẫn thủy chung với chợ đêm vì đã quen với sự sẻ chia của những người đồng cảnh trong mấy chục năm qua. Niềm hạnh phúc của những người lao động nghèo thật là giản dị.

Chợ đêm đúng là phiên chợ của những thân phận. Hạnh phúc ở đó và đắng cay cũng ngay cạnh đó. Hơn tuổi dì Hà nhiều là bà Doãn. Bà Doãn tuổi đã bát tuần, con đàn cháu đống ấy đáng ra là ngồi một chỗ cho hiếu tử, hiếu tôn hầu hạ. Thế mà trong cái đêm trời đất rét căm căm như đêm nay, cụ lụi cụi chọn mua từng nải chuối để sáng ra bán lại kiếm mấy đồng lời. Tôi không biết hạnh phúc của bà Doãn ở đâu nhưng thử hỏi cháu con của cụ bà lưng còng ấy có yên tâm trong chăn êm nệm ấm hay không khi nghĩ về bậc trưởng lão già nua phải trắng đêm trong mưa gió, giá buốt (?!).      

Ở góc tường sát hàng rào thương xá La Tuylipe, tôi để ý đến một cô bé dáng người gầy đét vừa ngủ gà ngủ gật vừa lật cuốn sách Toán lớp 12 dưới ánh đèn mờ. Em tên là Chiến, quê Quảng Ngãi nhưng vào sinh sống ở xã E Nhoh, huyện Buôn Ðôn, Ðác Lắc từ lâu. "Bố mẹ em sinh tới bảy đứa, nhà thì nghèo. Năm vừa rồi em thi trượt đại học anh ạ. Chị gái em thì bỏ học sang Ðà Lạt chạy chợ từ lúc lớp 5. Em theo chị vừa buôn bán kiếm tiền gửi về nhà vừa ôn lại kiến thức để năm tới tiếp tục đi thi. Mơ ước của em là trở thành cô giáo cho nên khổ mấy cũng quyết tâm đậu vào Khoa Sư phạm Ðại học Tây Nguyên".

Theo hướng chỉ tay của Chiến, tôi nhìn tấm lưng nhỏ gầy guộc của Hạnh - chị gái em, đang xếp cà chua, dưa leo, mướp đắng lên tấm ni-lông bên đường cầu thang vào chợ. Bóng dáng Hạnh lọt thỏm giữa không gian rộng lớn và lạnh lẽo như khắc họa rõ hơn chân dung của một phận người. Hợi, quê ở huyện Ðạ Tẻh lên Ðà Lạt làm nghề mổ lợn cũng là một hoàn cảnh tương tự. Năm nay 24 tuổi mà Hợi đã có 10 năm bám phố làm thuê. Vừa thoăn thoắt cạo lông, xả thịt con lợn già nửa tạ móc hàm, miệng thì rít thuốc đỏ lừ, Hợi nói: "Em mổ lợn thuê cho một ông chủ ở gần Nghĩa trang Du Sinh. Mỗi ngày được bốn chục nghìn". Hỏi chuyện gia đình, Hợi bảo: "Cả mẹ em và em trai cũng đã lên đây đi ở và làm thuê cho người ta. Thằng Mão nhà em mới mười lăm tuổi cũng đã mổ được lợn thuê kiếm sống rồi. Nó cũng giống em, chả học hành gì".        

Chiếc xe máy chở hàng vào chợ có vẻ muộn nhất là của vợ chồng Trường và Ngọc đến từ vùng Nam Ban. Vừa giúp Trường dựa xe cho Ngọc xuống, tôi vừa hỏi chuyện. Không thể nào tả nổi! Trên chiếc Citi cũ rích ấy, anh chồng chở tới ba tạ chè tươi cùng bà vợ ngồi bất động trên chiếc đèo hàng phía trước. Mưa như thế, gió như thế, đêm tối tăm như thế mà họ đã vượt qua một chặng dài đường rừng toàn là dốc với đèo cực kỳ nguy hiểm mà thỉnh thoảng đoạn đường ấy vẫn xảy ra trấn lột.

Từ Hà Tây vào đất mới, học ít, không nghề nghiệp, không đất vườn, lấy nghề chạy chợ kiếm kế sinh nhai. Lại thêm một gia cảnh đầy bất an khi hai đứa con nhỏ một lên tám và một lên hai tuổi phải tự lo lúc cha mẹ xa nhà hàng chục cây số trong đêm thanh vắng. Hai đứa trẻ ấy đáng ra là được ngủ yên lành trong vòng tay ấm áp của mẹ, thế mà, vì nghèo khó, các cháu đã phải tự lập khi còn tấm bé. Trả lời câu hỏi đầy lo lắng của tôi, Trường xởi lởi: "Chúng nó đã quen rồi bác ạ. Con bé lớn thì từ lúc năm tuổi vợ chồng em đã cho ngủ một mình ở nhà suốt đêm để chạy chợ rồi"...         

Ðêm trong chăn ấm nệm êm thật ngắn. Trắng đêm với thế giới những người cần lao mới thấy rằng đêm thật dài, thật sâu và lắng đọng bao điều. Sau một đêm trắng đồng hành cùng những thân phận hàng nghìn đêm thức trắng nhọc nhằn mưu sinh, tôi rã rời trở về góc phòng yên tĩnh của mình và viết về họ bằng cảm xúc sẻ chia lặng lẽ. Bài viết nhỏ này, tôi nghĩ, thật khó đến tay những nhân vật của tôi, vì có bao giờ những người lao động nghèo dám bỏ ra vài nghìn đồng bạc để mua tờ báo. Họ có thể thay hành vi "sang trọng" ấy bằng việc mua thêm mớ rau, vì dù sao, cũng kiếm được vài đồng tiền lãi. Tôi day dứt mãi bởi với câu hỏi vô tình của một cậu thanh niên đi chơi khuya mà ngẫu nhiên gặp trong quán đậu nành dì Hà: "Viết về họ thì anh có giúp được họ gì không?!"...

Có thể bạn quan tâm