Nhìn lại 10 năm công tác dân số ở Việt Nam

Trong 10 năm qua, những thành tựu về công tác DS-KHHGÐ tiếp tục được duy trì. Theo các số liệu chính thức công bố của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ phát triển dân số từ mức 1,51% năm 1999 giảm xuống 1,22% năm 2008; tỷ lệ sinh giảm từ 19,9 phần nghìn năm 1999 xuống còn 16,7 phần nghìn năm 2008; tổng tỷ suất sinh từ 2,3 con năm 1999 xuống còn 2,08 con năm 2008; Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng từ 72,7% năm 2000 lên 79,5% năm 2008. Mặc dù vậy đã có rất nhiều cố gắng, quy mô dân số Việt Nam vẫn tăng từ 76,597 triệu dân năm 1999 lên 86,211 triệu người năm 2008. Trong đó, dân số thành thị chiếm 23% năm 1999 và 28% năm 2008.  

Sau Tổng điều tra dân số năm 1999, việc đánh giá tình hình thực hiện công tác DS-KHHGÐ, căn cứ vào các số liệu cơ bản do Tổng cục Thống kê công bố, thông qua kết quả điều tra chọn mẫu biến động DS-KHHGÐ hằng năm và các phương pháp dự báo thống kê. Ðể có số liệu chính xác, phản ánh tổng thể thực trạng dân số, theo thông lệ quốc tế, chúng ta đã tiến hành cuộc TÐTDS và nhà ở năm 2009. Ngay từ đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 19/2007/CT-TTg ngày 3-8-2007 về việc chuẩn bị Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Ban Bí thư đã có Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 16-10-2008 về lãnh đạo thực hiện thắng lợi cuộc TÐTDS và nhà ở năm 2009.

Như chúng ta đã biết, Tổng điều tra dân số và nhà ở được tiến hành vào 0 giờ ngày 1-4-2009 để thu thập thông tin cơ bản về dân số và nhà ở. Ðể sau này khai thác, sử dụng hiệu quả số liệu kết quả TÐTDS 2009, chúng ta cần nắm chắc những đặc điểm cơ bản của cuộc TÐTDS 2009. Một điểm mới trong cuộc TÐTDS 2009, trong xu thế hội nhập, chúng ta đã mời các quan sát viên của LHQ tham gia quá trình điều tra. Ðiều này thể hiện tính minh bạch của cuộc TÐTDS và kết quả TÐTDS sẽ được quốc tế đánh giá và công nhận. Bước tổng hợp, công bố kết quả TÐTDS, từ tháng 5 đến tháng 6-2009 tập huấn công tác kiểm tra phiếu, ghi mã số, xử lý số liệu. Tháng 7-2009 công bố kết quả sơ bộ. Tháng 11- 2009 kết thúc tổng hợp số liệu điều tra mẫu, công bố số liệu vào 12-2009. Quý II - 2010 kết thúc tổng hợp số liệu điều tra toàn bộ. Công bố số liệu vào quý III - 2010. Sau đó là việc phân tích, xây dựng các báo cáo chuyên đề, chuyên sâu của TÐTDS năm 2009. 

Vừa qua, khi tiến hành TÐTDS năm 2009 đã gặp một số khó khăn. Do có thời gian biến động về tổ chức ngành dân số, các cơ sở dữ liệu không được duy trì, cập nhật, do vậy, trong công tác lập bảng kê số hộ, số người, Ban Chỉ đạo T.Ư đã phát hiện có sự kê khai thiếu và đã sớm chỉ đạo nhắc nhở Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố soát xét, chấn chỉnh. Và ngay ở giai đoạn chuẩn bị đã phát hiện thiếu khoảng 310 nghìn hộ tương đương khoảng 1,17 triệu dân, so với dân số ước tính đã công bố. Qua công tác tổng rà soát và hiệu chỉnh sơ đồ, bảng kê địa bàn điều tra, nhiều tỉnh, thành phố đã phát hiện chênh lệch, bổ sung thêm 332.616 hộ tương ứng với 801.359 nhân khẩu. Như vậy, cả hai lần rà soát đều cho thấy số thiếu tương đương với số nhân khẩu mới sinh ra trong một năm. Vấn đề này cũng phản ánh rõ sự thiếu cập nhật thông tin trong cơ sở dữ liệu dân số trong các năm 2007 - 2008 do tác động của biến động về tổ chức làm công tác DS-KHHGÐ.

Tháng 7 này, trong khi chờ có số liệu chính thức của cuộc TÐTDS năm 2009, đánh giá sơ bộ qua quá trình điều tra thấy: Về xu thế biến động dân số, khác với các cuộc TÐTDS trước đây, việc đăng ký điều tra gặp khó khăn ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn ở các vùng đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi có nhiều người di cư do nhu cầu việc làm, họ cư trú tạm thời, đi làm giờ giấc thất thường, điều tra viên rất khó tiếp xúc và chủ nhà trọ cũng không thể biết thông tin chính xác để kê khai thay. Tỷ lệ bỏ sót trong điều tra thường xảy ra ở những khu vực này. Ðây cũng là một xu hướng mới về biến động và quản lý dân cư cần đặc biệt quan tâm trong giai đoạn tới. Theo nhận định bước đầu có thể một số xu thế nhân khẩu học trong thời gian tới như sau: 1) Việt Nam sẽ đạt và ổn định mức sinh thay thế, quy mô dân số tiếp tục tăng những mức tăng hằng năm sẽ thấp hơn giai đoạn trước. 2) Mất cân bằng giới tính khi sinh, tỷ lệ giới tính khi sinh trong TÐTDS năm 1999 là 107 đã tăng lên 112 năm 2008. 3) Già hóa dân số, tỷ lệ người hơn 60 tuổi là 8,2% năm 1999 tăng lên 9,9% năm 2008. Chỉ số già hóa dân số từ 17,4 năm 1999 tăng lên 29,9 năm 2008. 4) Giai đoạn cơ cấu dân số vàng, hay lợi tức nhân khẩu học, hoặc cửa sổ dư lợi nhân khẩu học, tỷ lệ phụ thuộc chung giảm từ 69,9 năm 1999 xuống 53,7 năm 2008. Ðối với những vấn đề bức xúc này, trước đây chúng ta đánh giá và phân tích tình hình chủ yếu dựa trên kết quả điều tra chọn mẫu, sau cuộc TÐTDS lần này, sẽ có được bức tranh thực phản ánh đúng tình hình thực tế, giúp cho việc đánh giá, phân tích được chính xác, đồng thời cũng sẽ là nguồn tư liệu cơ bản phục vụ công tác dự báo, hoạch định chính sách thời gian tới. Ngoài ra, trong cuộc TÐTDS năm 2009 đã cho thấy thực trạng, điều kiện, phương tiện sống  của nhân dân, chất lượng nhà ở, tình trạng khuyết tật. Ðây là những số liệu hết sức bổ ích cho công tác nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe nhân dân - một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác DS-KHHGÐ trong giai đoạn 2011-2020.

Có thể bạn quan tâm