Nguyên nhân chính nào dẫn đến dịch cúm gia cầm tái phát ?

Nguyên nhân chính nào dẫn đến dịch cúm gia cầm tái phát ?

Phát dịch chủ yếu từ đàn thủy cầm

Theo dõi diễn biến dịch cúm trong tháng 5, hẳn chúng ta đều nhận thấy thủy cầm không dừng ở vật mang trùng trong đàn gia cầm khỏe mạnh, mà chính nó đã gây nên các ổ dịch tái phát. Cụ thể, 99% số gia cầm bị nhiễm bệnh và chết đều là thủy cầm (chủ yếu là vịt tái đàn dưới hai tháng tuổi).
Kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 17 cho phép ấp nở, nuôi mới thủy cầm, số lượng thủy cầm tăng đột biến. Sự tăng đàn trong điều kiện chăn nuôi nhỏ lẻ cộng ý thức của một bộ phận người chăn nuôi chưa cao, nên gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý chăn nuôi, ấp nở, vận chuyển, buôn bán thủy cầm, nguy hại hơn, có thể dẫn đến việc phá vỡ kết quả bảo vệ đàn gia cầm khỏi bị nhiễm bệnh.
Thực tế ở nhiều địa phương, chăn nuôi chủ yếu vẫn nhỏ lẻ, phân tán, đàn vịt nuôi mới phát triển hằng ngày, không có đợt cụ thể nào; người chăn nuôi thường không khai báo cho thôn hay cán bộ thú y về việc nuôi vịt của mình, mạng lưới thú y cơ sở lại quá mỏng. Tại các cơ sở ấp trứng gia cầm nói chung và thủy cầm nói riêng phần lớn là trứng thu mua từ nhiều nguồn khác nhau, nên không đủ điều kiện về kiểm dịch (nhất là thủy cầm). Như ở "vùng thủy cầm" Phú Xuyên (Hà Tây), đến nay mới chỉ quản được 30 - 40% số lượng thủy cầm. Ở đây, người dân đã lợi dụng "thương hiệu vịt Ðại Xuyên" để ấp nở và bán con giống. Ngay cả chuyện di dời các lò ấp trứng không đủ điều kiện ở các địa phương cũng cần phải có lộ trình mới thực hiện được.
Mặt khác, do đặc tính sinh học của thủy cầm sống dưới nước, rất khó bắt, lại dễ thải mầm bệnh ra môi trường rộng, việc tiêm phòng bổ sung cho vịt, ngan theo đúng yêu cầu hai lần, cộng với việc nuôi mới liên tục diễn ra hằng ngày ở các hộ, thì việc tiêm bổ sung triệt để 100% một cách liên tục là rất khó khăn. Ngay đến thời điểm này, nước ta cũng chưa có vắc-xin cúm thích hợp để tiêm cho vịt, ngan một ngày tuổi (chỉ tiêm sau 14 ngày) nên càng không thể tiêm ngay từ các lò ấp trứng.
Bên cạnh đó, công tiêm phòng quy định còn thấp (ngay cả các địa phương cũng không thống nhất mức chi theo ngày công hay tính theo số đầu con vật) đã không khuyến khích việc tiêm đủ số lượng, thậm chí còn xảy ra tình trạng khai khống số lượng thủy cầm được tiêm. Thực tế ở nhiều địa phương, tỷ lệ tiêm phòng đạt rất thấp so với số lượng thủy cầm hiện có, bởi vậy tỷ lệ bảo hộ không đủ gây miễn dịch cho đàn thủy cầm trước sự tiến công của virus cúm H5N1.
Một điều đáng báo động, việc không quản lý được đàn gia cầm đồng nghĩa với việc không quản lý được số lượng vắc-xin. Hiện tượng tăng đàn thủy cầm đang báo động nguy cơ phá vỡ "Dự án sử dụng vắc-xin khống chế và thanh toán dịch cúm gia cầm". Năm 2005, 2006, tổng kinh phí phục vụ công tác tiêm phòng là hơn 246 tỷ đồng, giai đoạn 2007 - 2008, dự toán tổng ngân sách T.Ư và địa phương chi cho việc này là 277.935.016.000 đồng.
Theo Cục Thú y, kế hoạch vắc-xin cho năm 2007 là 250 triệu liều, vậy mà đến giờ Cục đã phải nhập 300 triệu liều để phục vụ tiêm phòng đợt 1 và bổ sung. Như tỉnh Ðồng Tháp đăng ký 10 triệu liều cho cả năm thì cũng đã nhận hết số liều.
Trong nội dung dự án của giai đoạn II (2007 - 2008) cũng nêu rõ: Việc sử dụng vắc-xin chỉ là một trong nhiều biện pháp để khống chế, tiến tới thanh toán dịch bệnh, do đó các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, quy hoạch chăn nuôi, giảm mật độ đàn (nhất là thủy cầm) phải được tiến hành đồng thời, thường xuyên. Do vậy, việc tăng đàn hiện nay là trái với nguyên tắc sử dụng vắc-xin. Khả năng xuất hiện thêm các ổ dịch mới tại các tỉnh, thành phố khác là rất cao do không quản lý được ấp nở và vận chuyển thủy cầm, công tác tiêm phòng vắc-xin không được thực hiện triệt để. Việc này có thể dẫn tới hiện tượng virus biến đổi, hình thành một chủng mới độc lực cao hơn, gây khó khăn cho công tác phòng, chống dịch cúm lâu dài và tăng khả năng lây nhiễm cho con người.

Khi nào thì cho phép ấp nở, nuôi mới thủy cầm?

Sau hai năm tạm ngừng ấp nở, nuôi mới thủy cầm (từ ngày 4-2-2005), ngày 27-2-2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 17/2007/QÐ-BNN, cho phép chăn nuôi thủy cầm trở lại. Phải khẳng định rằng, chủ trương phát triển chăn nuôi là đúng, nhưng vào thời điểm nào và phải kèm theo điều kiện kiểm tra, kiểm soát, tiêm phòng vắc-xin theo đúng quy định.
Quyết định 17 quy định rõ điều kiện cụ thể về cơ sở ấp trứng, chăn nuôi thủy cầm, khai báo, đăng ký nuôi mới thủy cầm. Tất cả những điều kiện này dường như chỉ phù hợp trên "nền tảng" của một ngành chăn nuôi công nghiệp; nhưng thực tế, chăn nuôi ở nước ta vẫn còn nhỏ lẻ và phân tán. Một số việc như quy hoạch khu chăn nuôi, ấp trứng xa khu dân cư hay việc giám sát nguồn gốc trứng..., đến nay nhiều địa phương vẫn buông lỏng quản lý.
Ðể thực hiện đúng theo tinh thần Quyết định 17, các địa phương phải đủ năng lực quản lý, giám sát việc chăn nuôi thủy cầm. Nghĩa là phải chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện cần thiết để thực hiện các biện pháp quản lý như cơ sở vật chất, lực lượng kiểm tra, giám sát và thực thi các biện pháp vệ sinh thú y. Cần phát triển đàn thủy cầm, nhưng phải có biện pháp cụ thể, tổ chức thực hiện đến người dân, tổ chức chuyên môn, cơ quan, chính quyền tại địa phương. Ðồng thời, tăng cường tuyên truyền bằng mọi hình thức nhằm nâng cao nhận thức cho người chăn nuôi, để họ cùng hợp tác với chính quyền, ngành chức năng. Như vậy, mạng lưới thú y cơ sở phải mạnh cả về lực lượng lẫn năng lực chuyên môn. Có một thực tế, hiện nay lực lượng thú y ngay cả tuyến huyện cũng rất mỏng, chưa đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật để làm tốt công tác quản lý, giám sát dịch.

Muốn khống chế và ngăn chặn được dịch, chúng ta cần làm tốt cả ba khâu chủ chốt của quy trình phòng, chống: Quản lý tốt việc ấp nở, tái chăn nuôi thủy cầm, giảm đàn, đồng thời gây miễn dịch (bằng việc tiêm vắc-xin). Các biện pháp khác như tiêu độc khử trùng, an toàn sinh học, kiểm soát giết mổ, vận chuyển gia cầm... cũng phải thực hiện đồng bộ. Cục Chăn nuôi cần nhanh chóng hướng dẫn quy trình kỹ thuật chăn nuôi thủy cầm, xây dựng chính sách khuyến khích chăn nuôi thủy cầm theo hướng tập trung, an toàn sinh học, có biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể; đồng thời, tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực thi ở địa phương.

Trước tình hình phòng, chống dịch cấp bách hiện nay, Cục Thú y đề nghị giao quyền chủ động cho địa phương tự quyết định việc ấp nở, chăn nuôi thủy cầm; chỉ địa phương nào thấy có đủ tất cả những điều kiện mới tổ chức thực hiện theo lộ trình phù hợp; còn địa phương nào thấy chưa đủ điều kiện thì chủ động dừng lại để chấn chỉnh việc quản lý ấp nở, chăn nuôi, chỉ khi nào chuẩn bị đủ điều kiện thích hợp mới cho tiếp tục tái chăn nuôi thủy cầm.

Ðể thúc đẩy việc kiểm tra, kiểm soát việc ấp nở, nuôi mới thủy cầm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phân cấp rõ ràng cơ sở ấp trứng của T.Ư và của địa phương (thông báo rõ trên các phương tiện thông tin đại chúng) nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý ấp nở, chăn nuôi, vận chuyển, kinh doanh thủy cầm.
Về lâu dài, để chủ trương phát triển chăn nuôi thủy cầm gắn với công tác phòng, chống dịch mang lại hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần nhanh chóng đầu tư nâng cao năng lực của ngành thú y, hoàn thiện hệ thống thú y từ Trung ương đến địa phương, chú trọng xây dựng mạng lưới thú y cơ sở mạnh ngay từ thôn, bản. Vấn đề xây dựng hệ thống thú y mạnh càng trở nên cấp thiết hơn trong tình hình hiện nay, và tái chăn nuôi thủy cầm chỉ được thực hiện khi có đủ năng lực quản lý và giám sát được dịch bệnh.

Có thể bạn quan tâm