Người thương binh vượt lên nỗi đau da cam

Cũng giống như nhiều người, ông Hợp từng có một thời trai trẻ nhiệt huyết, cháy bỏng ước mơ, không ngừng sáng tạo, cống hiến sáng kiến phục vụ lao động sản xuất, chiến đấu. Tưởng như cánh cửa tương lai rộng mở, thì bước ngoặt trong cuộc đời người lính khiến ông phải chống chọi với vết thương trên cơ thể và nỗi đau da cam mà chiến tranh để lại.
Ông Nguyễn Trọng Hợp giới thiệu mô hình vườn đồi nhà mình.
Ông Nguyễn Trọng Hợp giới thiệu mô hình vườn đồi nhà mình.

Ðã bước sang tuổi "thất thập" nhưng giọng nói sang sảng của thương binh, nạn nhân chất độc da cam Nguyễn Trọng Hợp, ở xóm Tân Mỹ 1, xã Tân Quang, thị xã Sông Công (Thái Nguyên) cứ vang lên hào hứng, khi hồi tưởng về thời thanh xuân ngập tràn ước vọng. Ông bảo: Chứng kiến cảnh nghèo đói của gia đình, làng xóm, quê hương, tôi tự nhủ với lòng mình phải học, phải vào đại học để có kiến thức, trình độ, sau này đóng góp công sức nhỏ bé vào công cuộc xây dựng đất nước.

Gác lại ước mơ, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên Nguyễn Trọng Hợp lên đường nhập ngũ. Trong gian khó, người lính trẻ luôn khát khao sáng tạo, tìm cách chế tạo dụng cụ đào rãnh (từ những lưỡi dao hỏng) ngăn dung môi tiêu độc lan rộng khi thực hiện tiêu tẩy, hay đai nẹp súng phun lửa vào đòn gánh, để bộ đội cơ động thuận tiện, không mất thời gian chằng, buộc dây như trước. Từ một chiến sĩ, Nguyễn Trọng Hợp đã phấn đấu được đề bạt Tiểu đội trưởng, Chính trị viên phó đại đội, với danh hiệu Chiến sĩ thi đua nhiều năm liền. Một lần trong khi hành quân, chân trái và đầu của ông đã bị găm nhiều mảnh bom của địch. Tiếp đó, trong trận đánh Núi Chùa, tỉnh Quảng Nam (tháng 4-1969), Nguyễn Trọng Hợp đã bị hỏng mắt phải.

Rời chiến trường ra bắc điều trị, ông định trở lại Xí nghiệp toa xe Hà Nội, nhưng lại được tổ chức cử đi học. Ra trường, ông về công tác tại Trường trung học Cơ khí luyện kim Bắc Thái (nay là Trường cao đẳng Luyện kim Thái Nguyên). Ở đây, Nguyễn Trọng Hợp đã có sáng kiến "Lò đun nước sôi liên tục", vừa tiết kiệm nhiên liệu vừa đáp ứng đủ nước gội đầu cho hàng trăm nữ sinh (một tuần hai lần) và nước uống hằng ngày phục vụ học sinh cả trường. Sáng kiến mới này đã được áp dụng rộng rãi trong các cơ quan, trường học và được Bộ Cơ khí và Luyện kim, Ban Chấp hành liên hiệp Công đoàn tỉnh Bắc Thái tặng Bằng khen.

Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng Nguyễn Trọng Hợp còn phải đối mặt "chiến đấu" với chất độc da cam/đi-ô-xin mà ba người con ông gánh chịu. Người con gái đầu lòng Nguyễn Thị Hiền (sinh năm 1971) hai năm liền là học sinh giỏi, đến lớp ba bỗng trở nên đau yếu, gầy còi rồi teo cơ co quắp toàn thân không đi lại được. Tiếp theo đó, khi đang học lớp bốn, con trai của ông - Nguyễn Trọng Hiển (sinh năm 1981) cũng bị bệnh giống chị. Nhìn Hiển bị teo cơ co quắp toàn thân, lê lết trên nền nhà, ánh mắt như muốn hỏi "Con còn được đi học nữa không?", ông Hợp chỉ biết ghìm nén nước mắt vào trong.

Câu trả lời còn để trống thì đến người con út, Nguyễn Trọng Hoàn lại bị chất độc da cam tàn phá cơ thể. Nhiều lần nhìn ba người con lê lết trong nhà, có khi đang ngồi bị chó, mèo đụng vào là ngã sấp, không tự ngồi dậy được, hay những khi nhìn các con chân tay co quắp nằm ngủ mà lòng ông quặn đau.

Năm 1982, ông Nguyễn Trọng Hợp quyết định xin nghỉ mất sức, làm kinh tế để kiếm tiền chữa bệnh cho vợ, con. Ðây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời, bởi ước nguyện lớn nhất của ông là được mang trình độ, tay nghề của mình đóng góp thật nhiều cho xã hội. Trở về với ruộng vườn, ông làm tất cả mọi việc. Muốn có ngay tiền chữa bệnh cho con, ông mua máy làm mỡ, bún, nấu rượu, nuôi lợn nái, lợn thịt, cấy hơn một mẫu ruộng; trong đó một nửa cấy lúa sớm KD18 để có ruộng trồng thêm vụ ngô đông. Tranh thủ ngày, đêm khai phá, mở rộng 15 nghìn m2 đất, ông gánh đất bùn ao đổ vào hố để trồng các loại cây lâu năm, cây ăn quả, lấy ngắn nuôi dài. Sau vài năm, gia đình ông không những không phải lo bữa ăn hằng ngày mà đã tích lũy thêm tiền chữa bệnh cho con. Cứ mỗi lần bán gà, lợn, lạc cộng với lãi từ làm mì, nấu rượu, ông Hợp lại dùng chiếc xe đạp lọc cọc đèo con gái đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác chữa bệnh. Khi biết những đứa con của mình không thể chữa trị, ông càng quyết tâm phát triển kinh tế gia đình, tích cóp tiền bạc dành dụm cho các con sau này. Từ chăn nuôi, trồng trọt, cấy lúa, đào ao thả cá, mỗi năm gia đình ông thu hơn 60 triệu đồng. Ngoài chăm lo phát triển kinh tế gia đình, ông Hợp còn tích cực tham gia các hoạt động địa phương. Trên từng cương vị: phó bí thư, bí thư chi bộ, trưởng ban công tác mặt trận xóm, ông đóng góp nhiều công sức vào xây dựng xóm văn hóa; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bà con lối xóm tin yêu, mến phục. Nhiều năm liền ông được các cấp tặng bằng khen trong hoạt động công tác hội và được Chính phủ tặng Bằng khen trong công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng.

Có thể bạn quan tâm