Nghiên cứu sớm triển khai mô hình sandbox đa lĩnh vực, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới

Để thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân bứt phá, các chuyên gia đề xuất cần nghiên cứu sớm triển khai mô hình sandbox đa lĩnh vực, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới trong môi trường pháp lý linh hoạt nhưng vẫn kiểm soát rủi ro; lấy nhu cầu doanh nghiệp làm trung tâm trong đặt hàng nghiên cứu, thương mại hóa công nghệ.

Tại Hội thảo “Nghị quyết số 57-NQ/TW và 68-NQ/TW: Nền tảng để doanh nghiệp tư nhân đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” do Báo Nhân Dân phối hợp Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương tổ chức sáng 9/1, đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia, nhà khoa học đã chỉ rõ những “điểm nghẽn”, hạn chế, đồng thời đề xuất các giải pháp để giúp doanh nghiệp tư nhân bứt phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần các nghị quyết của Trung ương.

Phát triển cơ chế chia sẻ rủi ro công-tư trong đầu tư đổi mới sáng tạo

Chia sẻ góc nhìn về rào cản thể chế, ông Nguyễn Trung Thực - Viện trưởng Viện Tin học doanh nghiệp (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) nêu rõ, đầu tư cho khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian dài và rủi ro cao nên chưa thể trở thành ưu tiên của đa số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đáng chú ý, 93% doanh nghiệp cho biết họ khó dự đoán thay đổi chính sách pháp luật. Khi chính sách thay đổi nhanh, thiếu ổn định và khả năng dự báo, doanh nghiệp rất khó xây dựng chiến lược công nghệ và đầu tư R&D trung, dài hạn. Đây là rào cản vô hình nhưng rất lớn đối với đổi mới sáng tạo.

hoi-thao-bao-nhan-dan-5300.jpg
Ông Nguyễn Trung Thực - Viện trưởng Viện Tin học doanh nghiệp (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) chia sẻ góc nhìn về “điểm nghẽn” của cộng đồng doanh nghiệp với thể chế. (Ảnh: Thế Đại)

Theo ông Thực, thể chế hiện nay đang thiên về quản lý-kiểm soát hơn là khuyến khích và chia sẻ rủi ro; chính sách ưu đãi cho R&D và đổi mới công nghệ chưa đủ hấp dẫn và khó tiếp cận. Các quỹ hỗ trợ chưa được thông tin rộng rãi tới cộng đồng doanh nghiệp, các thủ tục phức tạp, nhiều ràng buộc, thiếu linh hoạt so với nhu cầu thực tế. Ngoài ra, khung pháp lý cho công nghệ và mô hình kinh doanh mới chưa theo kịp thực tiễn.

Từ đó, đại diện VCCI đề xuất một số kiến nghị, mạnh cần hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về đầu tư, khoa học-công nghệ, thuế, dữ liệu và sở hữu trí tuệ, bảo đảm thống nhất, dễ áp dụng, hạn chế thay đổi đột ngột. Đồng thời, phát triển cơ chế chia sẻ rủi ro công-tư trong đầu tư đổi mới sáng tạo: quỹ đồng đầu tư, bảo lãnh R&D, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).

Bên cạnh đó, phát triển mạnh thị trường khoa học-công nghệ và tổ chức trung gian, lấy nhu cầu doanh nghiệp làm trung tâm trong đặt hàng nghiên cứu, thương mại hóa công nghệ. Tăng cường tham vấn, phản biện chính sách của các tổ chức đại diện doanh nghiệp, giúp chính sách sát thực tiễn ngay từ đầu. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách tới cộng đồng doanh nghiệp thông qua các tổ chức xã hội nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp.

Ông Đặng Tùng Sơn, Phó Chủ tịch SVP, Giám đốc Chiến lược Tập đoàn công nghệ CMC, nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của thị trường thông qua chính sách mua sắm công. Theo đó, Nhà nước cần ưu tiên sử dụng các sản phẩm “Make in Vietnam” do doanh nghiệp trong nước đã làm chủ công nghệ lõi, qua đó tạo lập thị trường ban đầu cho đổi mới sáng tạo.

hoi-thao-bao-nhan-dan-5359-1.jpg
Ông Đặng Tùng Sơn - Phó Chủ tịch SVP, Giám đốc Chiến lược Tập đoàn công nghệ CMC đề xuất kiến nghị để doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có thể tăng tốc trong năm 2026. (Ảnh: Thế Đại)

Cùng với đó là bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng, ưu tiên giao cho khu vực tư nhân thực hiện những dự án mà doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực, đúng với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Đồng thời, cần thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo thông qua phát triển hệ sinh thái “ba nhà” gồm Nhà nước-nhà khoa học-doanh nghiệp đối với các công nghệ chiến lược.

Tiến sĩ Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ VINASA cho rằng, phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện vẫn chưa cảm nhận rõ tác động của Nghị quyết số 68-NQ/TW, do các nhiệm vụ và chính sách cụ thể chủ yếu đang hướng tới doanh nghiệp lớn. “Chúng ta đã có những doanh nghiệp ‘chim đầu đàn’, nhưng phía sau vẫn chưa hình thành được ‘đàn’ để tạo nên hệ sinh thái doanh nghiệp tư nhân vững mạnh”, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Quang nhận định.

Chỉ ra các điểm nghẽn về thể chế, nhân lực và hạ tầng, ông cho rằng chính sách hiện nay vẫn thiên về kích cầu hơn là kích cung; nguồn nhân lực công nghệ thông tin lớn nhưng chủ yếu làm gia công cho nước ngoài, trong khi thị trường trong nước thiếu nhân lực cho chuyển đổi số. Theo ông, nếu tạo được thị trường đủ tốt, doanh nghiệp công nghệ sẽ tập trung phục vụ nhu cầu trong nước thay vì “đánh bắt xa bờ”.

Từ thực tiễn đó, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Quang đề xuất sớm hình thành quỹ đổi mới công nghệ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo.

Nghiên cứu sớm triển khai mô hình sandbox đa lĩnh vực, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới

Để hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ tăng tốc tại Việt Nam, ông Nguyễn Bá Diệp, Đồng sáng lập, Phó Chủ tịch Tập đoàn Tài chính công nghệ MoMo đề xuất Nhà nước xem xét việc thúc đẩy các đòn bẩy chính sách về: thủ tục hành chính, nguồn vốn, thị trường, hạ tầng pháp lý, và nhân lực chất lượng cao.

Theo đó, Chính phủ cần thiết lập các văn phòng hỗ trợ khởi nghiệp và đầu tư ở các thành phố lớn, đóng vai trò đầu mối hỗ trợ cho doanh nghiệp trong các vấn đề liên quan đến giấy phép, thuế, visa, sở hữu trí tuệ, kế toán-tài chính, và pháp lý. Đây là những năng lực căn bản nhưng thiết yếu để doanh nghiệp an tâm hoạt động, giảm rủi ro pháp lý, gia tăng hiệu quả vận hành.

hoi-thao-bao-nhan-dan-5695.jpg
Ông Nguyễn Bá Diệp - Đồng sáng lập Tập đoàn Công nghệ tài chính MoMo chia sẻ một số kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng công nghệ vào ngành tài chính và các đề xuất phát triển doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam. (Ảnh: Thế Đại)

Về nguồn vốn, bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp sẵn có, đại diện Ví Momo đề xuất Nhà nước có thể: thu hút quỹ đầu tư mạo hiểm toàn cầu bằng chính sách ưu đãi – đặc biệt là thuế cho nhà đầu tư và doanh nghiệp đặt trụ sở tại thành phố. Triển khai Quỹ fund-of-funds (quỹ đầu tư dẫn dắt) của Nhà nước, rót vốn vào các quỹ tư nhân trong và ngoài nước với điều kiện các quỹ cam kết phân bổ 60-70% vốn cho các công ty công nghệ hoạt động trong các ngành ưu tiên quốc gia.

Đặc biệt, tạo hành lang pháp lý cho mô hình thị trường chứng khoán công nghệ. Đề xuất cơ chế thí điểm “làn riêng” cho doanh nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo niêm yết trên HOSE, tập trung vào tiêu chí tăng trưởng và công nghệ đột phá thay vì chỉ xét lợi nhuận.

Về đòn bẩy chính sách, theo ông Diệp, những doanh nghiệp công nghệ đột phá thường hoạt động ở các lĩnh vực mới như fintech, AI, y tế số, sinh học, dữ liệu số… vốn đòi hỏi hành lang pháp lý linh hoạt và kịp thời. Nhà nước có thể nghiên cứu sớm triển khai mô hình sandbox đa lĩnh vực, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới trong môi trường pháp lý linh hoạt nhưng vẫn kiểm soát rủi ro. Đây là mô hình mà nhiều quốc gia tiên tiến đã áp dụng hiệu quả.

Đòn bẩy nhân lực chất lượng cao và công nghệ chuyên sâu, ông Diệp cho rằng việc phát triển nhân lực cần được thực hiện có trọng tâm. Nhà nước có thể khuyến khích các trường đại học lớn để triển khai chương trình Unicorn Tech Talents – đào tạo kết hợp giữa doanh nhân công nghệ và kỹ sư chuyên sâu. Đồng thời, cũng cần có khung pháp lý rõ ràng để phân chia quyền sở hữu trí tuệ giữa nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp – qua đó thúc đẩy việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

hoi-thao-bao-nhan-dan-5831.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Lợi, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc (VKIST) chia sẻ tại Hội thảo. (Ảnh: Thế Đại)

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Lợi, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc (VKIST) cho rằng, để phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, trước hết cần một hệ thống pháp lý đồng bộ, cởi mở, cho phép chia sẻ hạ tầng dùng chung, nhất là các phòng thí nghiệm trọng điểm, đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế gắn với sản phẩm đầu ra.

Theo ông, “kết nối doanh nghiệp là khâu then chốt”, vì vậy cần tăng cường các diễn đàn, hội thảo liên kết giữa doanh nghiệp và viện nghiên cứu nhằm giới thiệu công nghệ, kết quả nghiên cứu và nhu cầu đổi mới sáng tạo. Đây cũng là cầu nối thúc đẩy hợp tác nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, trình diễn và chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc.

Từ thực tiễn hoạt động của VKIST, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Lợi nhấn mạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp cần theo hướng đồng hành, chuyên sâu, tạo sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa các nhà khoa học Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả và bền vững.

Phát huy mạnh mẽ vai trò của giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Chia sẻ tại Hội thảo, ông Vũ Chí Thành, Hiệu trưởng Trường cao đẳng FPT Polytechnic, nêu rõ Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 đã mở ra một tầm nhìn chiến lược rất rõ ràng cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, nguồn nhân lực có khả năng làm chủ và sáng tạo công nghệ chính là yếu tố quyết định.

Tuy nhiên, ông cho biết, Việt Nam hiện mới có khoảng 500 nghìn nhân lực công nghệ, trong khi nhu cầu có thể lên tới 2 triệu lao động công nghệ thông tin vào năm 2030. “Như vậy, chúng ta đang đối mặt với khoảng trống lên tới 1,5 triệu nhân lực công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, an ninh mạng… Đây chính là một trong các “điểm nghẽn” lớn cản trở khu vực kinh tế tư nhân bứt phá, trở thành lực lượng nòng cốt đúng như kỳ vọng của Đảng và Nhà nước”, ông Thành nhấn mạnh.

hoi-thao-bao-nhan-dan-5911.jpg
Ông Vũ Chí Thành - Hiệu trưởng Trường cao đẳng FPT Polytechnic, Tập đoàn FPT chia sẻ góc nhìn tại hội thảo. (Ảnh: Thế Đại)

Trong bối cảnh đó, Hiệu trưởng Trường cao đẳng FPT Polytechnic cho rằng, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái nhân lực quốc gia với những lợi thế rất rõ ràng: đào tạo tinh-gọn-thời gian ngắn, bám sát nhu cầu thực tế; tập trung kỹ năng thực hành, giúp người học làm việc được ngay; khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ và thị trường; đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp nhỏ, vừa và doanh nghiệp tư nhân - lực lượng chiếm đa số trong nền kinh tế.

Chia sẻ về mô hình giáo dục nghề nghiệp trong lòng doanh nghiệp qua thực tiễn từ FPT và FPT Polytechnic, ông Thành cho biết, với triết lý xuyên suốt “Thực học-Thực nghiệp”, nhà trường tập trung đào tạo nhân lực thực chiến cho các ngành công nghệ và kinh tế số: trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chip và bán dẫn, công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu, marketing số, thiết kế đồ họa…

FPT Polytechnic đã và đang triển khai các chương trình đào tạo tích hợp AI vào nội dung giảng dạy, học liệu, phương pháp dạy... Sinh viên không chỉ được tiếp cận kiến thức nền tảng về AI, mà còn được hướng dẫn ứng dụng AI vào học tập, thực hành nghề nghiệp và giải quyết các bài toán thực tiễn của doanh nghiệp, thích ứng nhanh với yêu cầu của thị trường lao động trong kỷ nguyên số.

Nhà trường chủ động mở rộng và tăng cường hợp tác với hơn 2.000 doanh nghiệp hàng đầu trong nước và quốc tế. 100% sinh viên được tham gia thực tập tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước ngay khi ngồi trên ghế nhà trường, qua đó sớm tiếp cận môi trường làm việc thực tế và yêu cầu của thị trường lao động; 97,7% sinh viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.

Trên cơ sở thực tiễn triển khai tại FPT Polytechnic, ông Vũ Chí Thành kiến nghị cần sớm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực số bằng những cơ chế, chính sách triển khai mang tính thực hành cao đối với giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là cơ chế linh hoạt trong xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức dạy-học và đánh giá kết quả theo chuẩn kỹ năng số của thị trường lao động.

Cùng với đó, mở rộng cơ chế để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo nghề, từ xây dựng chương trình, đánh giá chuẩn đầu ra đến đặt hàng đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, đổi mới cách tiếp cận về chuẩn đầu ra của người học, coi trọng năng lực thực hành, khả năng triển khai công nghệ, thích ứng nhanh với chuyển đổi số - những yếu tố quyết định năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế số.

hoi-thao-bao-nhan-dan-6087-1.jpg
Bà Trần Thị Phương Anh, Phó Giám đốc Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chia sẻ về vai trò của hệ thống nghiên cứu công lập trong nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. (Ảnh: Thế Đại)

Bên cạnh giáo dục nghề nghiệp, bà Trần Thị Phương Anh, Phó Giám đốc Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, việc kết hợp phát triển giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học là điểm mấu chốt để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ trong nghiên cứu khoa học mà còn trong ứng dụng khoa học vào thực tiễn.

Tuy nhiên, theo bà Trần Thị Phương Anh, những năm gần đây, công tác đào tạo khoa học cơ bản, đặc biệt là lĩnh vực khoa học và công nghệ có chiều hướng suy giảm. Khoa học cơ bản không còn là lựa chọn của nhiều sinh viên. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các chính sách về học bổng, tín dụng, đãi ngộ, môi trường nghiên cứu và lộ trình nghề nghiệp nhằm khuyến khích người học theo đuổi lĩnh vực khoa học cơ bản. Nghị quyết 57, với các chính sách hỗ trợ trong đào tạo, chính là điểm gỡ cho công tác đào tạo sau đại học về lĩnh vực khoa học cơ bản như toán học, vật lý, sinh học, hóa học, kỹ thuật và công nghệ.

"Thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản gắn với làm chủ công nghệ chiến lược là nhiệm vụ dài hạn, đòi hỏi đầu tư ổn định, cơ chế đặc thù và vai trò nòng cốt của các viện nghiên cứu công lập. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57, việc phát huy vai trò của các viện nghiên cứu, gắn nghiên cứu cơ bản với đào tạo sau đại học và kết nối doanh nghiệp là chìa khóa để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", Phó Giám đốc Học viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh.

Xác định lại vai trò nhà mạng viễn thông trong hệ sinh thái số

Từ góc độ của doanh nghiệp viễn thông ngoài khu vực nhà nước, Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương, Tổng Giám đốc Vietnamobile cho biết, Vietnamobile cảm nhận rõ tác động hai chiều của việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW: vừa là cơ hội, vừa là phép thử cho năng lực thể chế và thực thi chính sách.

Theo đó, Nghị quyết 57 đã mở rộng vai trò của doanh nghiệp viễn thông, không chỉ là “nhà cung cấp băng thông” mà trở thành trụ cột hạ tầng số cho Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Cùng với đó, Nghị quyết tạo động lực để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới. Đây là nền tảng để Vietnamobile chuyển từ “bán dung lượng” sang “bán giải pháp”, phát triển các dịch vụ số giá trị gia tăng, dịch vụ hướng tới cộng đồng, chính quyền điện tử…

Trong khi đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, nhấn mạnh các yêu cầu: phát huy vai trò kinh tế tư nhân trong hạ tầng chiến lược; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và không phân biệt đối xử; tiến tới cạnh tranh bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực…

hoi-thao-bao-nhan-dan-5781.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Viễn thông di động Vietnamobile chia sẻ góc nhìn của doanh nghiệp tại hội thảo. (Ảnh: Thế Đại)

Nêu những bất cập mà Vietnamobile đang đối diện liên quan chính sách tài nguyên tần số, nghĩa vụ chuyển giao tài sản không bồi hoàn từ mô hình BCC, thách thức trong hợp tác công, tư và chi phí tuân thủ, Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương kiến nghị một số định hướng từ góc nhìn doanh nghiệp.

Một là, hoàn thiện chính sách băng tần theo tinh thần “tối ưu hóa hiệu quả, không tối đa hóa thu ngân sách”. Việc xây dựng cơ chế gia hạn băng tần tách biệt với đấu giá; định giá dựa trên thời gian khai thác còn lại, mức độ khấu hao, hiệu quả khai thác và đóng góp xã hội; áp dụng mức phí linh hoạt theo thị phần, doanh thu, có hệ số giảm, giãn nộp với doanh nghiệp nhỏ, nhằm duy trì ít nhất 4 nhà mạng di động, bảo đảm cạnh tranh và quyền lựa chọn của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, tăng băng tần cho nhà mạng dưới ngưỡng tối thiểu, cho phép chia sẻ phổ tần và cho thuê lại có điều tiết.

Hai là, tiếp cận linh hoạt hơn với băng tần 5G và mô hình khai thác mới. Áp dụng sandbox 5G chi phí thấp cho doanh nghiệp hạn chế tần số; gắn việc cấp quyền sử dụng băng tần với cam kết chia sẻ hạ tầng, mục tiêu chuyển đổi số, thay vì chỉ dựa vào đấu giá.

Ba là, xác định lại vai trò nhà mạng viễn thông trong hệ sinh thái số. Nhà mạng không chỉ bán kết nối, mà là doanh nghiệp hạ tầng số, cung cấp nền tảng số quốc gia, dữ liệu, công nghệ lõi, tham gia kiến tạo không gian số gắn với lợi ích quốc gia và chủ quyền số.

Bốn là, hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ số mới và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Theo đó, cần nhanh chóng cụ thể hóa các luật về khoa học, công nghệ bằng nghị định, thông tư về: điều kiện, trình tự, thẩm quyền phê duyệt thử nghiệm; trách nhiệm, miễn trừ trách nhiệm trong phạm vi thử nghiệm. Điều này giúp doanh nghiệp dám thử nghiệm mô hình kinh doanh mới, giảm rủi ro pháp lý, nhưng vẫn bảo đảm an toàn cho Nhà nước và người dùng.

Năm là, chuyển nghĩa vụ chuyển giao tài sản không bồi hoàn sang nghĩa vụ chia sẻ lợi ích với Nhà nước. Lãnh đạo Vietnamobile đề nghị xem xét cơ chế chuyển từ “chuyển giao tài sản” sang “chia sẻ doanh thu hoặc trả phí quyền” trong thời gian nhất định. Cách tiếp cận này vừa tránh tranh cãi định giá tài sản, vừa bảo đảm lợi ích Nhà nước, phù hợp thông lệ đối tác công, tư, và giải được “nút thắt” cho các doanh nghiệp hình thành từ mô hình BCC.

Một định hướng nữa được Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương đưa ra là cần tạo thuận lợi hơn cho kinh tế tư nhân đầu tư hạ tầng số và PPP số. “Chính phủ nên sớm chỉ đạo rà soát giảm phí, lệ phí, nghĩa vụ tài chính bất hợp lý; sớm ban hành cơ chế ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, khấu hao nhanh, tín dụng dài hạn cho dự án hạ tầng số, nhất là ở vùng khó khăn; xây dựng mô hình PPP đặc thù cho hạ tầng số, nền tảng số dùng chung, trong đó Nhà nước vừa là “nhà đặt hàng đầu tiên”, vừa là đối tác cùng thiết kế, cùng vận hành với doanh nghiệp”, Tổng Giám đốc Vietnamobile đề nghị.

ndo_br_hoi-thao-bao-nhan-dan-6070.jpg
Các đại biểu dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: Thế Đại)

Có thể bạn quan tâm