Đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trăn trở bấy lâu nay của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Chính vì thế, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết chiến lược, trong đó có các Nghị quyết 57, Nghị quyết 70, Nghị quyết 79... Nhiều cuộc họp quan trọng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cũng đã được tổ chức dưới sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của người đứng đầu, thể hiện quyết tâm cũng như tầm nhìn nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia trước những biến động lớn của thế giới.

Để hiện thực hóa khát vọng ấy, cần đến những doanh nghiệp nội địa có đủ năng lực phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược. Cuộc trò chuyện giữa Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel Tào Đức Thắng với Báo Nhân dân diễn ra trong bối cảnh mà nhiều người đang đặt nhiều kỳ vọng vào những gì mà tập đoàn viễn thông công nghiệp này đã và đang thực hiện, khi chủ động tham gia phát triển 9 trên tổng số 10 nhóm công nghệ chiến lược theo Quyết định 1311/QĐ-TTg của Thủ tướng.

Trong một ngày Hà Nội nóng kỷ lục, Trung tướng Tào Đức Thắng đã chia sẻ về bầu nhiệt huyết, cũng như cách Viettel biến đổi mới sáng tạo thành năng lực cốt lõi, cơ chế chấp nhận rủi ro và định hướng phát triển các công nghệ chiến lược như bán dẫn, lượng tử, Trí tuệ nhân tạo... Đương nhiên, sẽ là cả những kiến nghị về cơ chế chính sách cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.

Phóng viên: Hiện nay “đổi mới sáng tạo” được nhắc đến rất nhiều, đôi khi gần như trở thành khẩu hiệu. Ở Viettel, làm thế nào để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành năng lực cốt lõi của tập đoàn chứ không chỉ là khẩu hiệu?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Cụm từ “đổi mới sáng tạo - innovation” trước hết phải là sự thay đổi so với cái cũ. Nhưng thay đổi thôi chưa đủ. Sự thay đổi đó phải có hàm lượng sáng tạo và phải tạo ra kết quả tốt hơn. Không thể gọi là đổi mới sáng tạo nếu chỉ đơn giản là làm khác đi, “rẽ trái, rẽ phải” theo cảm tính, nhưng kết quả không tốt lên.

Văn hóa Viettel luôn đề cao tinh thần đổi mới sáng tạo và sự khác biệt. Sản phẩm sau phải khác biệt, chất lượng hơn, chính xác hơn, ưu việt hơn, hiện đại hơn. Đó là sự khác biệt theo hướng tích cực.

Tinh thần này đã ăn sâu vào văn hóa của đội ngũ cán bộ, nhân viên cũng như lãnh đạo Viettel. Với lãnh đạo, đổi mới là yêu cầu thường trực để dẫn dắt tổ chức. Không thể dùng tư duy cũ để tạo ra chiến lược mới. Cái cũ có thể giúp duy trì tăng trưởng ở một mức nhất định, nhưng cái mới mới tạo ra động lực tăng trưởng mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các lãnh đạo Bộ Quốc phòng tham quan các sản phẩm của Tập đoàn Viettel.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các lãnh đạo Bộ Quốc phòng tham quan các sản phẩm của Tập đoàn Viettel.

Ở Viettel, chúng tôi – các cấp lãnh đạo luôn suy nghĩ, đau đáu, thậm chí ám ảnh về đổi mới sáng tạo, không bằng lòng với một kết quả trung bình, không thỏa mãn với thành công đã có, phải luôn khao khát tìm cái mới để dẫn dắt đơn vị, để truyền cảm hứng cho cấp dưới và tự làm mới chính mình. Sự khác biệt với Viettel gần như là một chiến lược cho cả hành trình phát triển.

Sự khác biệt đó cũng là một chiến lược phát triển của Viettel. Ví dụ khi đi ra nước ngoài, nếu mình là người đi sau thì không thể đi giống người đi trước. Người ta tập trung ở đô thị, mình phải phổ cập rộng khắp. Người ta làm 3G, mình có thể đi thẳng lên 4G. Ở Việt Nam hay tại các thị trường nước ngoài, chiến lược khác biệt cũng là một yếu tố tạo nên thành công của Viettel.

Vậy việc “cứng hóa” mục tiêu bằng KPI – phải ra sản phẩm cụ thể – liệu có triệt tiêu sáng tạo không?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Nhà văn, nhà thơ có thể cần sự bay bổng và cảm hứng. Nhưng trong nghiên cứu công nghệ, đặc biệt ở quy mô lớn, không thể để đội ngũ làm việc theo ngẫu hứng. Khi có mục tiêu và áp lực đủ lớn, sự sáng tạo sẽ đi đúng hướng, giải quyết đúng vấn đề và đi đến kết quả cụ thể.

Cách làm của Viettel là “giao đầu, kiểm tra đáy” - giao mục tiêu rõ ràng, nhưng kiểm tra sát xuống tận nơi tạo ra sản phẩm. Chúng ta không chỉ kiểm tra trên giấy, mà phải xem sản phẩm thực tế đã có chưa, đang ở mức nào, vướng ở đâu.

Về kỷ luật và sáng tạo, ở Viettel hai khái niệm này không đối lập mà bổ trợ cho nhau. Kỷ luật tại Viettel không phải là ép con người tuân thủ một cách cứng nhắc để triệt tiêu tư duy sáng tạo. Kỷ luật thực sự của người lính là hiểu rõ mục tiêu tối thượng, giữ vững trận địa nhưng luôn linh hoạt, mưu trí để tìm ra cách đánh sáng tạo và chiến thắng trong mọi điều kiện bất định của thị trường.

Kỷ luật giúp hiện thực hóa và nhân rộng các ý tưởng sáng tạo với tốc độ nhanh hơn. Khi một giải pháp mới được thử nghiệm thành công, kỷ luật giúp một tổ chức lớn với hàng vạn người có thể thực thi đồng bộ, chính xác và đưa ý tưởng thành kết quả cụ thể.

Viettel - Đột Phá Công Nghệ Chiến Lược
Quyết định 1311/QĐ-TTg

Viettel Tham Gia
9/10 Nhóm Công Nghệ

Đến nay, Viettel đã chủ động tham gia phát triển 9 trên tổng số 10 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Chạm hoặc di chuột vào từng thẻ để khám phá chi tiết các lĩnh vực nghiên cứu cốt lõi.

Mỗi sự thay đổi đều đi kèm rủi ro. Viettel chấp nhận và quản trị rủi ro trong đổi mới như thế nào?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Rủi ro luôn tồn tại. Cách Viettel quản trị rủi ro là đưa vào phạm vi kiểm soát ngay từ giai đoạn thử nghiệm. Cái gì mới, chúng tôi thường làm từ đơn giản đến phức tạp, thử ở quy mô từ nhỏ đến lớn. Trong kinh doanh, có thể thử nghiệm ở một địa bàn, một nhóm khách hàng, một xã, rồi xem phản hồi thế nào, nếu đúng mới mở rộng. Việc tắt sóng 2G cũng được thực hiện theo cách đó: thử trước ở phạm vi nhỏ để đánh giá tác động, sau đó mới triển khai trên toàn quốc.

Với những việc mới, chưa rõ ràng, Viettel chấp nhận “thử - sai”, thử nghiệm nhiều lần để tìm ra cách làm đúng. Người đứng đầu phải có năng lực quản trị rủi ro và mạnh dạn giao việc, trao quyền cho cấp dưới thử nghiệm.

Sản phẩm UAV của Viettel tại lễ diễu binh kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9.

Sản phẩm UAV của Viettel tại lễ diễu binh kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9.

Không thể có đổi mới sáng tạo nếu lãnh đạo chỉ muốn an toàn tuyệt đối. Bài học thành công và kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước là điểm tựa để Viettel mạnh dạn đổi mới, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Ông chấp nhận mức rủi ro của các dự án nghiên cứu đến đâu? Và mức đầu tư cho nghiên cứu phát triển của Viettel hiện ở mức nào?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Về cơ chế và rủi ro: điều quan trọng nhất là cơ chế đánh giá nghiệm thu – sản phẩm đúng, chất lượng tốt thì nghiệm thu và trả công xứng đáng cho người làm đề tài. Điều khó và đáng sợ nhất không phải là thất bại, mà là không dám làm hoặc làm chưa tới. Nhiều việc khó chính vì chưa ai làm.

Nguyên tắc của chúng tôi: đã nhận việc thì phải rõ ràng, không mơ hồ, phải chủ động đề xuất làm cái gì, hiểu thực tiễn ra sao. Viettel may mắn là các thế hệ lãnh đạo đi trước đã mạnh dạn đề xuất và làm thành công, nên nay đã có bài học để kế thừa. Thứ hai là phải bài bản: trước khi quyết định đầu tư một đề tài, một dây chuyền, phải bàn rất kỹ. Và điều quan trọng cuối cùng để anh em yên tâm làm việc: nếu làm đúng quy trình, quy định thì không bị truy cứu, kể cả khi thử nghiệm chưa thành công – nhất là với công nghệ chiến lược, vốn là lần đầu làm.

Về tỷ lệ đầu tư cho R&D: theo quy định trước đây, doanh nghiệp được trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế cho quỹ phát triển khoa học công nghệ; gần đây mức trần đã được nâng lên 20%. Quan trọng hơn con số là việc quỹ đó được sử dụng cho đúng sản phẩm, đúng mục tiêu.

Doanh nghiệp lớn thường ngại thay đổi vì một quyết định sai có thể tạo rủi ro trên toàn hệ thống. Ở Viettel thì sao?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Nếu một doanh nghiệp có hàng chục nghìn người nhưng chỉ tập trung vào một sản phẩm thì đúng là rất khó sáng tạo vì quá cồng kềnh. Nhưng ở Viettel, tổ chức lớn được chia thành nhiều khối hoạt động khác nhau, rồi tiếp tục chia nhỏ nữa, chuyên trách các lĩnh vực, sản phẩm khác nhau. Khi đó, tổ chức lớn lại trở nên linh hoạt hơn, không còn là một khối nặng nề nữa.

Khi chia như vậy, mỗi đơn vị trở thành một thực thể vận hành tương đối độc lập, có bài toán riêng, mục tiêu riêng và mô hình đổi mới sáng tạo riêng. Đổi mới sáng tạo không còn là việc của “một Tập đoàn lớn” theo nghĩa trừu tượng, mà diễn ra ngay trong từng cơ quan, từng đơn vị, từng nhóm sản phẩm.

Hiện Viettel được tổ chức thành năm khối: khối viễn thông (gồm cả viễn thông trong nước và nước ngoài); khối công nghiệp công nghệ cao (cả lưỡng dụng quân sự và dân sự); khối công nghệ số và chuyển đổi số; khối thương mại điện tử, bưu chính, công trình; và khối công nghệ AI. Trong mỗi khối lại chia nhỏ tiếp – ví dụ khối số có giải pháp cho doanh nghiệp, có nội dung như TV360… Mỗi đơn vị tự nó là một cơ thể, một “tập đoàn con” trong tập đoàn lớn, và đổi mới được tạo ra ngay trong từng đơn vị đó.

Như vậy, thay vì hình dung mấy chục nghìn người cùng làm một sản phẩm, thì thực chất là rất nhiều đơn vị quy mô vừa phải, mỗi nơi tự đổi mới, tự tạo ra sản phẩm tốt hơn, doanh thu cao hơn. Đây là cách Viettel đang vận hành trên thực tế.

Viettel đang tham gia vào các nhóm công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược quốc gia như thế nào?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Theo định hướng về danh mục công nghệ chiến lược quốc gia, có các nhóm công nghệ chiến lược đi kèm danh mục sản phẩm chiến lược tương ứng. Trong số đó, Viettel tham gia ở 9/10 nhóm công nghệ.

Về danh mục sản phẩm chiến lược, chúng tôi nhìn nhận có hai nhóm: nhóm sản phẩm có thể đưa vào ứng dụng nhanh do thị trường đã hình thành rõ nét — như AI, y tế, nông nghiệp, vật liệu; và nhóm sản phẩm chiến lược mang tính tương lai như vệ tinh. Đi kèm còn có các nhiệm vụ về công nghệ chiến lược không gian. Riêng lĩnh vực vật liệu, đặc biệt là vật liệu tiên tiến, chúng tôi đánh giá là nền tảng cực kỳ quan trọng và đang tập trung nghiên cứu mạnh.

Với những công nghệ khó như lượng tử, quan điểm của chúng tôi là phải thực sự hiểu sâu bản chất khoa học. Tập đoàn hiện đang hỗ trợ nhiều đề tài nghiên cứu, phối hợp với các viện nghiên cứu, và xác định phải đào tạo đội ngũ bài bản trước khi triển khai trên diện rộng.

Vai trò và định hướng của Viettel đối với các công nghệ chiến lược quốc gia là gì?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Các công nghệ chiến lược như lượng tử, bán dẫn, vật liệu tiên tiến… đều là những lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với tương lai phát triển của đất nước. Định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề cốt lõi đang nằm ở cách đi và lộ trình đi như thế nào, bởi sẽ không có chuyện các công nghệ lõi được chuyển giao một cách dễ dàng. Vì vậy, Việt Nam buộc phải xác định con đường tự chủ, từng bước đi lên bằng chính năng lực của mình. 

Kinh nghiệm của Viettel là vừa làm vừa phối hợp. Để có thiết bị 5G có thể triển khai đồng bộ ở các thị trường quy mô vài triệu dân như hiện nay là quá trình Viettel đã nghiên cứu tuần tự từ điện tử, viễn thông, 4G rồi phát triển lên 5G.

Thế mạnh của Viettel là chúng tôi có thị trường, nhưng quan điểm của chúng tôi là doanh nghiệp không thể thay thế vai trò của Viện nghiên cứu hay Trường đại học, mà phải phối hợp chặt chẽ với họ để làm chủ công nghệ. Chẳng hạn, muốn phát triển các lĩnh vực khoa học công nghệ cao thì đều phải nắm vững lý thuyết cơ bản, ví dụ như bắt tay vào nghiên cứu công nghệ lượng tử thì phải thực sự hiểu vật lý lượng tử. Các trường và viện nghiên cứu đóng vai trò đào tạo đội ngũ từ gốc, từ sinh viên trở đi, để doanh nghiệp có thể đi xa hơn.

Viettel luôn lựa chọn cách tiếp cận "đi từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ làm chủ đến tự chủ": bắt đầu bằng mô phỏng, làm mẫu thử quy mô nhỏ rồi từng bước làm chủ. Phần nào có thể tự làm thì chủ động triển khai; phần nào chưa làm được thì hợp tác, trao đổi với các đối tác phù hợp.

Quan trọng nhất là phải xác định mục tiêu rất rõ ràng, đặc biệt là gắn công nghệ chiến lược với sản phẩm chiến lược cụ thể. Một sản phẩm có thể tích hợp nhiều công nghệ, nhưng khi đặt mục tiêu cụ thể thì việc tổ chức nghiên cứu, triển khai sẽ rõ ràng và khả thi hơn rất nhiều.

Trong nhà máy chip bán dẫn và trong lĩnh vực lượng tử, trí tuệ và giá trị của người Việt, của Viettel nằm ở đâu?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Về tổng thể, chuỗi sản xuất chip gồm ba khâu chính: thiết kế, sản xuất (đúc chip) và đóng gói – kiểm thử. Hiện nay, Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu thiết kế cùng đóng gói – kiểm thử. Riêng khâu thiết kế đang được nhiều đơn vị triển khai, trong đó có Viettel với đội ngũ kỹ sư người Việt tại Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh…

Giá trị cốt lõi mà người Việt tạo ra nằm ở thiết kế chip theo nhu cầu sử dụng thực tế: chip cho máy chủ, IoT, xử lý biên hay chip nguồn.

Khâu sản xuất là phần cực kỳ khó, hiện nay, từ một bản thiết kế, muốn đúc chip phải xếp hàng để thuê làm và điều này cần chờ thời gian rất dài. Vì vậy, nhà máy sản xuất bán dẫn của Viettel trước mắt sẽ đóng vai trò phát triển năng lực thiết kế, thử nghiệm ngay trong nước, rút ngắn được nhiều thời gian và công sức, giúp cho trí tuệ của Việt Nam trong lĩnh vực này được khai thông một cách hiệu quả.

Công nghệ lượng tử vừa mang lại cơ hội lớn, vừa có không ít thách thức. Về cơ hội, lợi ích lớn nhất của công nghệ lượng tử là khả năng tính toán cực nhanh, giải được những bài toán mà máy tính thông thường rất khó xử lý. Ví dụ điển hình là phân tích gen, hay phát hiện sớm tế bào ung thư khi mới chỉ có một vài tế bào lạ, giúp can thiệp và điều trị kịp thời. Đây chính là năng lực tính toán mà Viettel hướng tới.

Để hiểu đúng bản chất, cần nhận thức rõ: máy tính lượng tử không phải là một chiếc máy tính thông thường có màn hình, RAM hay ROM — đây là một phương pháp tính toán hoàn toàn khác. Máy tính thông thường dùng bit, tại mỗi thời điểm chỉ ở một trạng thái 0 hoặc 1, muốn biểu diễn hết các trạng thái phải lần lượt từng bước. Lượng tử dùng qubit — tại một thời điểm có thể đồng thời đại diện cho rất nhiều trạng thái, nên với hàng nghìn qubit, số trạng thái biểu diễn được là cực lớn.

Với các công nghệ rất mới như lượng tử, Viettel thu hút nhân tài là Việt kiều hoặc người nước ngoài như thế nào?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Chúng tôi có các chính sách nhằm thu hút nhân tài, bao gồm cả chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên, đi cùng với đó là cơ chế bố trí phù hợp theo từng khu vực công việc và hệ thống đánh giá, kiểm soát chặt chẽ đối với các vị trí quan trọng.

Ví dụ, những kỹ sư có trình độ cao có thể tham gia các lĩnh vực trọng yếu tùy theo năng lực chuyên môn và yêu cầu bảo mật.

Khi máy tính lượng tử ra đời, an ninh mạng đứng trước nguy cơ lớn. Đây có phải cơ hội để Viettel phát triển các giải pháp bảo mật?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Về thách thức và nguy cơ, rõ nhất là tác động đến an ninh mạng. Hiện nay, dữ liệu trên đường truyền được bảo vệ bằng các thuật toán mã hóa như RSA — vốn dựa trên một "luật chơi" toán học mà máy tính thông thường phải mất rất nhiều thời gian mới phá được. Với máy tính lượng tử, việc giải mã đó có thể trở nên rất nhanh. Đáng lo hơn, tin tặc hoàn toàn có thể thu thập, gom dữ liệu mã hóa ngay từ bây giờ để chờ giải mã về sau, khi công nghệ lượng tử đã trưởng thành hơn.

Để đối phó với nguy cơ này, hướng đi quan trọng là mật mã hậu lượng tử — PQC (Post-Quantum Cryptography). Đây chính là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp an ninh mạng Việt Nam, trong đó có Viettel, để nghiên cứu và đưa ra các giải pháp bảo mật thế hệ mới, song song với việc phát triển năng lực AI.

Yếu tố nào giúp sản phẩm công nghệ của Viettel hoàn thiện nhanh và đúng với nhu cầu thị trường?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Một lợi thế lớn là vòng phản hồi rất nhanh. Vì chúng tôi vừa là nhà sản xuất vừa là nhà khai thác – chính chúng tôi sử dụng sản phẩm – nên khi thiết bị có vấn đề, đội phát triển nhận phản hồi ngay và sửa rất nhanh. Trước đây, các hãng lớn nước ngoài làm thiết bị mà không trực tiếp vận hành mạng thì vòng phản hồi chậm hơn nhiều.

Nhờ vậy, sản phẩm được “may đo” theo nhu cầu thực và hoàn thiện rất nhanh, vừa vặn với quy mô triển khai. Đó cũng chính là sự khác biệt.

Mang sản phẩm ra nước ngoài còn khó hơn nhiều so với trong nước. Viettel xử lý bài toán này ra sao?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Đi ra nước ngoài khó hơn vì còn thêm yếu tố kiểm soát của nước sở tại. Nhưng quy cho cùng, gốc của vấn đề vẫn là sản phẩm: sản phẩm phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.

Hiện nay, các sản phẩm mạng lõi viễn thông – hệ thống tính cước, giá trị gia tăng – gần như 100% đã được chúng tôi triển khai tại các thị trường đã đầu tư, vì đó là phần chúng tôi làm chủ và kiểm soát được, lại có giá thành và chất lượng rất tốt. Với thiết bị 4G, 5G, chúng tôi cũng đã tự tin cạnh tranh. Yếu tố quyết định là phải hiểu rõ thị trường và nhu cầu thực của thị trường đó.

Đây cũng là lý do chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp Việt khác nếu họ muốn đi ra nước ngoài – từ hiểu thị trường, pháp lý đến quản trị – bởi chúng tôi đã có kinh nghiệm tại nhiều thị trường.

Ở góc độ rộng hơn, cần thay đổi cơ chế chính sách như thế nào để khuyến khích doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư cho đổi mới sáng tạo?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất là phải tạo được đầu ra cho sản phẩm. Khi có thị trường tiêu thụ rõ ràng, doanh nghiệp sẽ tự bỏ vốn đầu tư nghiên cứu và phát triển. Đầu ra lại phụ thuộc rất lớn vào cơ chế chính sách. Khi Nhà nước ban hành ban hành quy định, thị trường sẽ lập tức hình thành. Giống như trước đây, khi quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm được áp dụng, ngành sản xuất mũ bảo hiểm đã phát triển rất nhanh. Thay vì cho tiền đầu vào để nghiên cứu, hãy tạo đầu ra cho sản phẩm – khi đó doanh nghiệp sẽ tự tối ưu để cạnh tranh.

Tôi cho rằng thay vì cấp tiền trực tiếp cho doanh nghiệp nghiên cứu một sản phẩm chưa rõ bán cho ai, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế “voucher”, tức hỗ trợ phía cầu để người mua lựa chọn sản phẩm công nghệ trong nước. Khi đó doanh nghiệp sẽ buộc phải làm ra sản phẩm tốt, cạnh tranh thực sự để bán được hàng, thay vì chỉ trông chờ vào nguồn vốn nghiên cứu.

Tất nhiên, đối với những công nghệ nền tảng và mang tính tương lai như vệ tinh, bán dẫn hay công nghệ hạt nhân – nơi thị trường đầu ra chưa hình thành – thì Nhà nước vẫn cần đóng vai trò đầu tư để nâng cao tiềm lực quốc gia.

Một vấn đề lớn là sản phẩm công nghệ “Make in Vietnam”, ví dụ thiết bị 4G, 5G, lại chưa được nhiều doanh nghiệp trong nước sử dụng, dù Nghị quyết 57 đã nêu rõ ưu tiên. Ông nhìn nhận thế nào?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Đây thực sự là một vấn đề lớn và đã được nhận diện khá rõ. Nguyên nhân đầu tiên nằm ở giá thành. Khi sản xuất với số lượng nhỏ – vài nghìn hay vài chục nghìn thiết bị – thì chi phí nghiên cứu, nhà xưởng, nhân công… tính trên mỗi đơn vị sản phẩm cao, khiến giá sản phẩm đội lên rất nhiều so với sản xuất hàng triệu thiết bị. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ từ phía người mua.

Nguyên nhân thứ hai là các quy định trong đấu thầu. Nhiều tiêu chí hiện nay như yêu cầu “hợp đồng tương tự” hay kinh nghiệm nhiều năm vô hình trung tạo ra rào cản cho sản phẩm Việt Nam.

Có những sản phẩm doanh nghiệp trong nước hoàn toàn làm được nhưng lại không thể bán vì chưa từng có hợp đồng quy mô lớn để chứng minh năng lực. Điều đó cũng giống như yêu cầu sinh viên mới ra trường phải có nhiều năm kinh nghiệm làm việc. Đây là những điểm cần được sửa đổi nếu muốn ưu tiên thực chất cho sản phẩm công nghệ trong nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm tham quan các sản phẩm chip bán dẫn của Viettel.

Tổng Bí thư Tô Lâm tham quan các sản phẩm chip bán dẫn của Viettel.

Có cần hình thành những tập đoàn, đơn vị công nghệ chủ lực để đi đầu không?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Theo tôi là rất cần thiết. Muốn phát triển những ngành như bán dẫn thì phải kéo theo cả hệ sinh thái phía sau, từ vật liệu đến hóa chất và các công nghiệp phụ trợ.

Giá trị lớn nhất nằm ở việc làm chủ chuỗi giá trị, cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang. Nếu chỉ tham gia một công đoạn nhỏ như lắp ráp hay đóng gói cuối cùng thì giá trị tạo ra cho nền kinh tế sẽ rất hạn chế.

Vì vậy, Việt Nam cần hình thành các ngành công nghiệp nền tảng như vật liệu, hóa chất… cùng với những doanh nghiệp chủ lực có khả năng dẫn dắt để tối đa hóa giá trị gia tăng ở từng khâu.

Trong không khí khẩn trương đưa các nghị quyết đi vào đời sống, nhiều bộ, ngành đã chủ động mời doanh nghiệp tham gia định hướng công nghệ. Chẳng hạn trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, Viettel có thể tham gia các hệ thống thông tin điều khiển, phủ sóng 5G trên các tuyến cao tốc. Tinh thần chung hiện nay là rất khẩn trương.

Nghị quyết 57 và các cơ chế mới đề cao quyền chủ động và tăng khả năng chấp nhận rủi ro cho doanh nghiệp. Cần cụ thể hóa tinh thần “chủ động – thần tốc – táo bạo” như thế nào?

Chủ tịch Tào Đức Thắng: Năm 2026 có rất nhiều nhiệm vụ lớn liên quan đến công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược. Đi cùng với đó là những cơ chế rất đáng chú ý, đặc biệt là cơ chế đánh giá – yếu tố tạo động lực rất lớn cho đội ngũ nghiên cứu chứ không chỉ đơn thuần là nguồn vốn.

“Chủ động” nghĩa là mỗi cá nhân, mỗi nhóm nghiên cứu phải tự đề xuất hướng đi, tự tìm giải pháp, bởi lãnh đạo không thể nghĩ thay tất cả. Không đi được con đường này thì phải chủ động tìm con đường khác.

“Thần tốc” là tinh thần làm việc liên tục, khẩn trương và quyết liệt. Còn “táo bạo” không đồng nghĩa với liều lĩnh. Táo bạo vẫn phải đi cùng hiệu quả, tránh rơi vào mạo hiểm cực đoan.

Tựu trung lại, đây là giai đoạn cần khuyến khích đội ngũ nghiên cứu mạnh dạn dấn thân, yên tâm thử sức với những công nghệ mới và những lĩnh vực chưa từng có tiền lệ.

Trân trọng cảm ơn ông!

Xuất bản: Tháng 6/2026
Thực hiện: Hoàng Nhật - Văn Toản