Ðánh giá kết quả sau khi thực hiện dự án, Ngân hàng Ðầu tư và Phát triển Việt Nam, đơn vị thực hiện Dự án với tư cách ngân hàng bán buôn cho biết, mục tiêu cung cấp tín dụng ở khu vực nông thôn đã đạt được mức độ cao, một đồng vốn WB đã tạo ra gần 4 USD đầu tư, cao hơn 1,5 USD so với thẩm định ban đầu.
Tính đến ngày 30-9-2009, các Quỹ tín dụng của Dự án đã tạo ra tổng mức đầu tư lên đến 870 triệu USD (13.785 tỷ VND) lớn hơn nhiều so với dự tính ban đầu khoảng 287 triệu USD, trong đó, nguồn vốn WB tài trợ lũy kế đạt tương đương 467 triệu USD (7.480 tỷ VND) chiếm 54,3% tổng chi phí đầu tư; các tổ chức tín dụng tài trợ bổ sung 122 triệu USD (1.935 tỷ VND) bằng 14%; và vốn góp của người vay cuối cùng lên đến 276 triệu USD (4.369 tỷ VND) bằng 31,7%. Theo đánh giá của báo cáo kết quả dự án, một USD từ nguồn vốn WB đã tạo ra 3,91 USD đầu tư ở khu vực nông thôn, tăng hơn so với dự kiến khi thẩm định là 1,51 USD. Thông qua Quỹ Phát triển Nông thôn II (RDF II) và Quỹ Cho vay Tài chính Vi mô (MLF) - hai tiểu cấu phần tín dụng của dự án, dự án đã khuyến khích đầu tư tư nhân với việc tài trợ cho 444.644 phương án khả thi của các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp tư nhân nông thôn. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn chiếm 99,2% dư nợ Quỹ RDF II. Dự án đã đạt mục tiêu cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn hiện còn khan hiếm trong hệ thống ngân hàng cho đầu tư phát triển khu vực nông thôn.
Tính theo khu vực địa lý, 60/63 tỉnh, thành phố ở các vùng miền trong cả nước được hưởng lợi từ nguồn vốn Dự án. 30,1% nguồn vốn Dự án đã tài trợ cho hoạt động thương mại dịch vụ; 28,9% tài trợ cho chăn nuôi; 18,1% tài trợ cho hoạt động trồng trọt; 6,4% cho thủy hải sản; 4,1% cho chế biến; 2,2% cho sản xuất tiểu, thủ công nghiệp; và 9,8% cho các hoạt động kinh tế khác. Không có nợ quá hạn từ các định chế tài chính được lựa chọn tham gia dự án (PFI) đến Ngân hàng Ðầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - đơn vị chủ dự án. Tỷ lệ nợ quá hạn trung bình từ người vay cuối cùng đến các PFI ở mức rất thấp (0,36% so với tỷ lệ 2% đặt ra cho mục tiêu cuối kỳ). Theo con số thống kê, nguồn vốn Quỹ RDF II đã tạo ra 274 nghìn 896 việc làm mới ở khu vực nông thôn. Bình quân một tiểu dự án (64 triệu VND hay tương đương 4.050 USD) tạo ra được 1,6 việc làm, cho thấy nguồn vốn Dự án được đầu tư vào phân khúc thị trường có hệ số tạo việc làm cao.
Dự án TCNT II cũng thành công trong việc thực hiện mục tiêu tăng khả năng tiếp cận của người nghèo nông thôn đến dịch vụ tài chính. Ðã có 274.047 khoản vay nhỏ, ngắn hạn được cấp ở khu vực nông thôn. Do quy mô nhỏ, bình quân chỉ khoảng 5,5 triệu VND/khoản vay lại (350 USD), đối tượng hướng tới chủ yếu của Quỹ MLF là người nghèo nông thôn. Nguồn vốn Quỹ MLF cũng tập trung cho vay vào hai ngành nghề chủ yếu là chăn nuôi (63%) và trồng trọt (28%), là những hoạt động chủ yếu mang lại thu nhập và cải thiện đời sống của người nghèo nông thôn. Khoảng một phần ba nguồn vốn của Quỹ MLF được sử dụng cho vay ở khu vực trung du miền núi phía bắc, là nơi có mật độ người nghèo cao nhất nước.
Dự án TCNT II cũng đã hỗ trợ cho BIDV và các PFI trong việc tăng cường năng lực thể chế qua đó phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế cũng như cho khu vực nông thôn. Yêu cầu xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển thể chế theo từng giai đoạn đã giúp cho các ngân hàng có mục tiêu hoạt động cụ thể và từng bước phát triển theo định hướng chiến lược và có kiểm soát. Quy định về kiểm toán quốc tế đối với những PF
Mục tiêu của Dự án TCNT II là hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao điều kiện sống của người dân thông qua khuyến khích đầu tư của các hộ gia đình và các doanh nghiệp tư nhân bằng việc cung cấp các khoản cho vay trung và dài hạn; tăng cường năng lực của hệ thống ngân hàng nhằm phục vụ tốt hơn cho khu vực kinh tế nông thôn và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của người nghèo ở nông thôn. I có hạn mức tín dụng hơn một triệu USD cũng giúp cho các ngân hàng theo đuổi những thông lệ quốc tế tốt nhất. Các hợp đồng hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo được Dự án tài trợ đã hỗ trợ BIDV và các PFI thực hiện các kế hoạch chiến lược, đổi mới cơ cấu tổ chức và phát triển nguồn nhân lực. BIDV, ngân hàng đầu mối thực hiện Dự án, đã có những cải thiện vững chắc về nền tảng vốn, kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, tăng khả năng sinh lời và đã đạt các chỉ số hoạt động chủ chốt cơ bản theo chuẩn quốc tế đã thống nhất với WB.
BIDV cũng đã hoàn thành việc chuyển đổi sang mô hình tổ chức mới theo thông lệ quốc tế với sự trợ giúp của tư vấn TA2, một dự án khác do WB tài trợ. Các PFI bán lẻ chủ chốt của Dự án, đã có cải thiện rất đáng kể về khả năng sinh lời. 24 PFI khác đã có những bước phát triển lớn trong giai đoạn tham gia Dự án về mặt tăng cường nền tảng vốn, mở rộng mạng lưới và áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại. Nhìn chung, các PFI đã thành công trong việc duy trì tình hình tài chính lành mạnh khi đã có 16 trong số 24 PFI đạt được toàn bộ các tiêu chí lựa chọn từ cuối năm 2007.
Với 25 ngân hàng được lựa chọn tham gia Dự án theo các tiêu chí chặt chẽ, chiếm hơn 60% tổng số các ngân hàng Việt Nam, Dự án TCNT II đã thúc đẩy cạnh tranh hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng ở khu vực nông thôn và góp phần phát triển hệ thống tài chính nông thôn lành mạnh. Những quy định về bảo vệ môi trường trong chính sách cho vay của Dự án cũng đã được tuân thủ. Kết quả kiểm tra thực địa và điều tra đánh giá của tư vấn độc lập cho thấy đã không phát sinh vấn đề lớn về môi trường trong Dự án. Trong Dự án TCNT II, đặc biệt lần đầu ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại đã gắn kết các quy định về bảo vệ môi trường vào điều kiện vay vốn. Ðiều này đã góp phần tích cực trong nâng cao ý thức của người dân nông thôn tham gia bảo vệ môi trường khi thực hiện các phương án sản xuất, kinh doanh, một hoạt động còn chưa phổ biến ở khu vực nông thôn cho đến gần đây. Dự án TCNT II cũng không tạo ra bất cứ vấn đề nào về mặt xã hội ở khu vực nông thôn do không có hoạt động tái định cư và theo quy định, dự án cũng không tài trợ cho hoạt động mua bán đất đai.
Báo cáo đánh giá tác động của Dự án do Công ty Tư vấn Arthur D Little (Tây Ban Nha) thực hiện cho thấy, Dự án TCNT II có tác động tích cực đối với tiếp cận tài chính ở khu vực nông thôn khi xác nhận 30% người vay cuối cùng lần đầu tiên được tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức và 60% người vay cuối cùng lần đầu tiên mở tài khoản tiết kiệm tại các định chế tài chính chính thức, 77% người vay cuối cùng cho biết đã không thể thực hiện được dự án của họ nếu không có khoản vay từ Dự án TCNT II.