ND - Những năm qua, quy mô đàn bò sữa và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu (Sơn La) ngày càng tăng. Nhờ đó, lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động luôn được bảo đảm. uy tín và thị phần tiêu thụ sản phẩm sữa Mộc Châu ngày càng tăng. Vậy Công ty đã thực hiện những biện pháp nào để đem lại hiệu quả như vậy?
Năm 2005, Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu đã chuyển hoạt động sản xuất, kinh doanh theo mô hình cổ phần hóa. Trong đó, sở hữu Nhà nước chỉ chiếm 51% giá trị doanh nghiệp; phần còn lại thuộc sở hữu của các cổ đông (phần lớn là người lao động trong công ty) đã hợp tác góp vốn cùng công ty đầu tư phát triển ngành chăn nuôi bò sữa.
Với mục tiêu: từng bước nâng cao lợi nhuận chăn nuôi bò sữa và bảo đảm hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động; ngay khi bắt tay vào hoạt động theo mô hình tổ chức mới, công ty đã thực hiện các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả. Trước hết là rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến sữa, bao gồm: quy hoạch sử dụng đất trồng cỏ, quy hoạch phát triển đàn bò sữa và kế hoạch đầu tư mở rộng công suất nhà máy chế biến sữa. Xây dựng các định mức kinh tế, kỹ thuật, đơn giá sản phẩm và công khai nội dung các hợp đồng khoán với các hình thức khoán sản phẩm đa dạng. Công ty mạnh dạn giao khoán ổn định đến các hộ chăn nuôi diện tích đất trồng cỏ, số lượng bò sữa gắn liền với sản lượng sữa tươi trên đầu gia súc và chu kỳ sản xuất, hoặc theo từng tháng, quý trong năm kế hoạch.
Ðể tạo điều kiện thuận lợi, giúp các hộ chăn nuôi yên tâm nhận khoán, ngoài việc nghiêm túc thực hiện các cam kết theo quy định của hợp đồng giao khoán; công ty còn phối hợp các hộ nhận khoán triển khai nhiều việc làm có tính sáng tạo. Ðó là thực hiện tốt hơn việc sản xuất, chế biến và dự trữ thức ăn, nhất là cỏ khô, cỏ ủ ướp đáp ứng khẩu phần ăn cho đàn bò trong các tháng mùa khô. Từng bước thực hiện cơ giới hóa ngành chăn nuôi bò sữa. Ðến nay, toàn công ty đã mua sắm, trang bị đến các hộ nhận khoán được 223 máy vắt sữa bò, 210 máy tắm cho bò, 274 máy cắt cỏ, 107 máy công cụ khác. Xây dựng quỹ bảo hiểm cho đàn bò sữa với số tiền lên tới hơn 5,1 tỷ đồng. Hộ chăn nuôi gặp rủi ro, bò bị chết được công ty đền theo mức quy định. Công ty đã thực hiện thành công việc xây dựng quỹ bảo hiểm giá tiêu thụ sản phẩm sữa cho các hộ chăn nuôi. Ðây là điều kiện để công ty tăng dần giá tiêu thụ sữa qua từng năm. Hiện nay, công ty thu mua sữa tươi với giá 8.000 đồng/kg, cao nhất cả nước và tăng hơn 2,5 lần so với năm 2005, tăng 14,2% so với năm 2007. Nhờ đó, quy mô đàn, năng suất và tổng sản lượng sữa đã có bước tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay. Ðến năm 2008, tổng số đàn bò sữa lên tới 4.154 con, tăng 480 con; năng suất sữa bình quân đạt 16,9 kg, tăng 0,2kg/con/ngày (riêng đàn giống gốc đạt 18,85kg); sản lượng sữa nguyên liệu hơn 12.507 tấn, tăng gần 3.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh số đông các hộ trồng cỏ, nuôi bò là những hộ chuyên thâm canh đồng cỏ, nuôi bò theo quy mô trang trại. Có những hộ chuyên hoạt động lĩnh vực dịch vụ sản xuất hoặc thu gom sữa nguyên liệu cho các nhà máy chế biến của đơn vị. Hiện nay, công ty có 18 trang trại nuôi bò. Ông Lâm Thanh Trâm - chủ trang trại có hơn 50 con bò sữa cho chúng tôi biết: Năm 2008, trang trại này đã giao nộp cho công ty 125,1 tấn sữa; ông Nguyễn Văn Quất giao nộp 105,6 tấn sữa và khoảng 30% số hộ chăn nuôi đạt sản lượng 20-90 tấn sữa/năm. Những hộ chuyên trồng cỏ đạt giá trị 65 triệu đồng/ha/năm. Chăn nuôi bò sữa đã trở thành nghề truyền thống và là nguồn thu nhập chính, nhiều hộ chăn nuôi đã giàu lên từ nghề nuôi bò sữa.
Cùng với các biện pháp đổi mới công tác quản lý trong ngành chăn nuôi bò sữa, từ năm 2005 đến nay, công ty tiếp tục đầu tư nâng cấp hai nhà máy sản xuất sữa thanh trùng, sữa tiệt trùng theo hướng hiện đại. Bằng vốn tự có hơn 36,6 tỷ đồng, công ty đã mua sắm, trang bị thêm một bộ bồn chứa sữa nguyên liệu, hệ thống bồn lạnh bảo quản sản phẩm, lắp đặt thêm máy rót sữa các loại. Năm 2005, nhà máy sản xuất sữa tiệt trùng mới chỉ có một máy rót sữa với công suất 3.000 lít/giờ, đến nay đã có năm máy rót sữa loại TBA19-180ml và loại TBA19-120ml. Các nhà máy đều vận hành theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 và HACCP code 2003 có hiệu quả. Khi còn hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Nhà nước, công ty chỉ có nhà máy sữa thanh trùng sản xuất các mặt hàng truyền thống gồm: sữa tươi thanh trùng, sữa bò cô đặc, sữa bánh, bơ, pho-mát,... đến nay có thêm dòng sản phẩm mới - sữa tươi tiệt trùng Mộc Châu loại 180ml và loại 118ml có đường hoặc không có đường và có hương vị sô-cô-la hoặc dừa, cam, mật ong,... đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.
Giám đốc Công ty Trần Công Chiến cho hay: Thị trường tiêu thụ sản phẩm là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp; với nhận thức đó, công ty đã tập trung nguồn lực tổ chức xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm với 57 nhà phân phối, hơn 300 lao động, trải rộng trên địa bàn 34 tỉnh, thành phố (từ Quảng Ngãi trở ra). Các sản phẩm làm từ sữa của công ty được thị trường ưa chuộng nên làm ra đến đâu, tiêu thụ hết đến đó, ít xảy ra tình trạng ứ đọng sản phẩm.
Thời gian công ty hoạt động theo mô hình cổ phần hóa chưa nhiều, nhưng bước đầu đã tạo động lực thúc đẩy quy mô đàn bò sữa, sản xuất kinh doanh liên tục phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng cao. So với năm 2005, năm 2008 công ty đã có tổng số vốn kinh doanh tăng gần hai lần (riêng vốn sở hữu doanh nghiệp tăng từ 7,6 tỷ đồng tăng lên 82,6 tỷ đồng, gấp hơn 10 lần); tổng mức doanh thu tăng 6,16 lần; lợi nhuận đạt hơn 46,4 tỷ đồng, tăng 84 lần; nộp ngân sách tăng 5,9 lần; mức thu nhập bình quân của người lao động đạt 3,5 triệu đồng/tháng, tăng 2,5 lần; cổ tức đạt 40%, tăng hơn 5,26 lần. Cả ba lợi ích: Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động đều tăng trưởng vượt bậc.
Ðể công ty phát triển bền vững, Giám đốc Trần Công Chiến cho biết: Sẽ tiếp tục khắc phục một số tồn tại, đó là: nhận thức về quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đàn bò của một bộ phận hộ chăn nuôi còn thấp, công tác quy hoạch phát triển hộ chăn nuôi quy mô lớn, quy trình xây dựng khu vực sản xuất sạch còn chậm và nhiều hạn chế. Vệ sinh chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại; công tác thú y chưa đạt như mong muốn. Việc đầu tư thâm canh đồng cỏ và cơ cấu giống cỏ chưa hợp lý, chưa bổ sung vào đồng cỏ các giống cỏ, các cây thức ăn có năng suất chất lượng, khả năng đầu tư thâm canh đồng cỏ còn yếu, ảnh hưởng đến việc chủ động sản xuất thức ăn gia súc. Việc vi phạm hợp đồng khoán sản phẩm, vi phạm quản lý sử dụng đất đai vẫn còn nảy sinh, công tác quản lý thu mua sữa còn nhiều bất cập, sự kết hợp giữa các phòng, ban với nhà máy trong quản lý và công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm chưa đồng bộ, chưa dự báo được tình hình thị trường để tạo thêm cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh; trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ quản lý hạn chế ảnh hưởng không nhỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh.
HOÀNG HIỂN