Năm 2025 là năm cuối nhiệm kỳ, thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách về sắp xếp tổ chức bộ máy và chính quyền địa phương 2 cấp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, toàn ngành nội vụ đã cùng đoàn kết, trách nhiệm, nỗ lực vượt qua những khó khăn, tập trung tham mưu những chủ trương, quyết sách lớn, mang tính lịch sử, đặc biệt là triển khai rất khẩn trương, quyết liệt, đạt mục tiêu, yêu cầu, tiến độ cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp.
Dưới đây là một số kết quả nổi bật trên các lĩnh vực công tác của ngành nội vụ trong năm qua.
Công tác chỉ đạo điều hành của Bộ Nội vụ được thực hiện thống nhất, quyết liệt, bám sát các nghị quyết, kết luận của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Với phương châm hành động của năm 2025 là “Đoàn kết-Kỷ cương-Đổi mới-Hiệu năng-Hiệu quả”, Bộ Nội vụ đã chủ động tham mưu, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều chính sách quan trọng, không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, mà còn góp phần hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ngành nội vụ.
Toàn ngành nội vụ đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; quyết liệt triển khai các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương và Chương trình công tác năm 2025 và Kế hoạch hành động của Đảng bộ các địa phương liên quan đến lĩnh vực nội vụ.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có nhiều đổi mới, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, vừa tập trung tham mưu, tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng trên lĩnh vực nội vụ, vừa giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn bảo đảm yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt và chiến lược lâu dài.
Điểm nhấn nổi bật là: (i) Thực hiện việc tinh gọn, sắp xếp tổ chức bộ máy của các bộ, ngành, bảo đảm hoạt động hiệu quả, thông suốt; (ii) Tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp; tổ chức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; (iii) Đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa Chính phủ với các bộ, ngành, với địa phương; (iv) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Bộ, ngành nội vụ.
Năm 2025 đánh dấu một bước phát triển mới về chức năng, nhiệm vụ của ngành nội vụ khi thực hiện việc hợp nhất Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ thành Bộ Nội vụ mới kể từ ngày 1/3/2025.
Đồng thời, tổ chức thành công Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, kỷ niệm 80 năm thành lập ngành nội vụ hòa chung không khí các sự kiện trọng đại của đất nước tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức toàn ngành phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Năm 2025, Bộ Nội vụ đã tham mưu trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương: 19 văn bản, đề án; trình Quốc hội thông qua 6 Luật, 6 Nghị quyết; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 42 Nghị quyết; trình Chính phủ ban hành: 41 Nghị định; 31 Nghị quyết; xem xét ban hành: 16 Nghị định; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành: 75 Quyết định; 1 Chỉ thị. Bộ trưởng Nội vụ ban hành: 31 Thông tư; 3 Văn bản hợp nhất theo thẩm quyền.
Hệ thống thể chế kịp thời tháo gỡ khó khăn, khắc phục những bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của bộ máy mới, nhất là cấp cơ sở để triển khai thành công cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, thực hiện có hiệu quả các trụ cột an sinh xã hội, lao động việc làm, chăm lo người có công với cách mạng.
Nhìn chung, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được đổi mới tư duy mạnh mẽ, thúc đẩy đột phá chiến lược, nâng cao công tác xây dựng, thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực nội vụ; hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy, xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Trung ương, Bộ Nội vụ đã chủ động tham mưu tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, theo đó sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của Chính phủ khóa XV được tinh gọn, gồm: 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ, 5 cơ quan thuộc Chính phủ.
Sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của Chính phủ khóa XV được tinh gọn, gồm: 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ, 5 cơ quan thuộc Chính phủ.
Về sắp xếp cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp, cấp huyện, trong đó cấp tỉnh giảm 709 cơ quan; cơ quan chuyên môn cấp huyện giảm 8.289 cơ quan.
Đến nay, trên cả nước đã thành lập 467 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và 9.916 phòng chuyên môn cấp xã được thành lập tại các xã, phường, đặc khu.
Kịp thời xây dựng, hoàn thiện chế độ chính sách khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với tinh giản biên chế bảo đảm nhân văn, phù hợp, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo đúng yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương.
Thực hiện Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/2/2025 và Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/2/2025 của Trung ương, Bộ Nội vụ đã tập trung cao độ, chủ trì xây dựng Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng tại các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Nghị quyết số 60 của Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII, Bộ Nội vụ đã chủ trì, tham mưu trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thẩm định Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã của 34 tỉnh, thành phố mới trình Chính phủ để trình Quốc hội thông qua.
Đến nay, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh và có 3.321 đơn vị hành chính cấp xã.
Ngay sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2015/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, chính quyền địa phương 2 cấp chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025. Đến nay, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh và có 3.321 đơn vị hành chính cấp xã.
Sở Nội vụ các địa phương đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thành lập tổ công tác trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra việc vận hành hoạt động của chính quyền 2 cấp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.
Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức-viên chức đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại.
Cụ thể như: trình Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, công chức (sửa đổi) (tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV), Luật Viên chức (sửa đổi) (tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV) và ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức-viên chức đáp ứng yêu cầu của tổ chức bộ máy mới; hoàn thiện chính sách thu hút và trọng dụng người có tài năng vào làm việc trong cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, tiêu chuẩn nghiệp vụ, tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức-viên chức dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, bằng sản phẩm cụ thể.
Tiếp tục tổ chức các khóa bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ngoài; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số và hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức-viên chức đã mang lại kết quả tích cực; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ AI, Chat GPT, bồi dưỡng theo vị trí việc làm khi tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và kỷ cương, đạo đức công vụ.
Công tác cải cách hành chính luôn nhận được sự quan tâm, sâu sát và chỉ đạo thường xuyên, toàn diện từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương; đặc biệt là những chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, để tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong giải quyết thủ tục hành chính.
Các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực triển khai các nội dung, nhiệm vụ cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch đã phê duyệt, với nhiều giải pháp, cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả.
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, một số địa phương đã ban hành Bộ tiêu chí đánh giá Chỉ số Cải cách hành chính của các sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp xã; ban hành phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn.
Công tác thi đua, khen thưởng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và từng bước đổi mới theo hướng thực chất, hiệu quả. Bộ Nội vụ đã tham mưu tổ chức thành công Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ XI; các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động bám sát nhiệm vụ chính trị, qua đó đã phát huy vai trò động viên, khích lệ tinh thần trách nhiệm, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Việc xét khen thưởng cơ bản bảo đảm đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, chú trọng người trực tiếp lao động, công tác ở cơ sở; tăng cường khen thưởng đột xuất đối với tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu.
Công tác tiền lương và bảo hiểm xã hội luôn bám sát tình hình phát triển kinh tế-xã hội, khả năng cân đối ngân sách và mặt bằng giá cả để kịp thời nghiên cứu, điều chỉnh mức lương cơ sở và lương tối thiểu vùng bảo đảm đời sống người hưởng lương, tạo động lực làm việc, giữ ổn định xã hội và thị trường lao động.
Hướng dẫn các địa phương triển khai các biện pháp tăng cường tuân thủ pháp luật lao động, thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định.
Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, số người tham gia bảo hiểm xã hội đến nay có khoảng 19,83 triệu người, lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội tương ứng tỷ lệ 41,1%, đạt mục tiêu đề ra theo Nghị quyết số 28-NQ/TW riêng đối với mục tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã vượt mục tiêu đặt ra.
Công tác lao động, việc làm được triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế-xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động. Thị trường lao động từng bước phục hồi và phát triển ổn định; công tác dự báo nhu cầu lao động, kết nối cung-cầu, hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động sát với thực tiễn.
Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị trong năm là 2,39%, cả năm 2025 duy trì mục tiêu dưới 4%; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% (giảm 0,03% so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65% (giảm 0,34 điểm % so với cùng kỳ năm trước); thu nhập bình quân tháng của lao động là 8,31 triệu đồng/tháng (tăng 756 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước).
Các trung tâm dịch vụ việc làm đã tổ chức 752 phiên giao dịch việc làm, thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cho 1,738 triệu người, trong đó số lao động có việc làm là 425,5 nghìn người.
Công tác quản lý lao động ngoài nước có nhiều đổi mới, tập trung nghiên cứu các chính sách pháp luật của các quốc gia về việc tiếp nhận lao động, di cư và người nước ngoài vào làm việc tại các nước để chủ động tham mưu cấp có thẩm quyền bảo đảm triển khai hiệu quả công tác tiếp nhận, đưa lao động sang làm việc tại nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam tại nước ngoài.
Triển khai các hoạt động củng cố hợp tác lao động với một số thị trường lao động truyền thống, đồng thời thúc đẩy việc đàm phán, mở rộng thị trường lao động có tay nghề, trình độ kỹ thuật cao như các nước ở châu Âu.
Trong năm 2025, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 144.345 lao động, trong đó có 48.784 lao động nữ, vượt 111% kế hoạch năm 2025.
Công tác đối với người có công với cách mạng được triển khai đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, đúng chế độ. Các chính sách ưu đãi người có công và thân nhân được thực hiện nghiêm túc, góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, củng cố niềm tin và sự đồng thuận của nhân dân và xã hội.
Bộ Nội vụ đã tập trung hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (thay thế Nghị định số 131/2021/NĐ-CP)35; Nghị định điều chỉnh chế độ trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến và thanh niên xung phong cơ sở miền nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965-1975.
Cơ quan này cũng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định kiện toàn Ban Quản lý Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Trung ương; cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” cho các liệt sĩ là thương binh nặng của Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành, cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công” cho 547 liệt sĩ. Tham mưu Chủ tịch nước ký ban hành Quyết định về việc tặng quà người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ; tập trung xây dựng Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ; tiếp tục triển khai thực hiện Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; ban hành kế hoạch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; thực hiện thẩm định hồ sơ, cấp, cấp lại, cấp trích lục, tra cứu bộ hồ sơ liệt sĩ và tiếp nhận mẫu hài cốt liệt sĩ để giám định ADN theo quy định. Tiếp tục thực hiện thẩm định hồ sơ công nhận liệt sĩ, trình Thủ tướng Chính phủ cấp mới, cấp lại bằng Tổ quốc ghi công, cấp trích lục hồ sơ liệt sĩ, tra cứu hồ sơ liệt sĩ theo thẩm quyền.
Hướng dẫn các địa phương triển khai các hoạt động chăm sóc người có công nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ; kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9; thực hiện Quyết định của Chủ tịch nước tặng quà cho đối tượng người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ ; đôn đốc thực hiện Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ giai đoạn 2023-2025; hướng dẫn công tác tổ chức, quản lý sử dụng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa theo mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, thực hiện chi trả chế độ ưu đãi người có công với cách mạng những tháng cuối năm 2025.
Bộ đã tham mưu tặng quà cho hơn 1,66 triệu người có công với tổng số tiền hơn 834 tỷ đồng nhân kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền nam thống nhất đất nước và 80 năm Quốc khánh. Đồng thời, nhân kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, tham mưu tặng quà cho hơn 1,57 triệu người có công, với tổng số tiền gần 481 tỷ đồng.