Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chính sách học bổng dành cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Chính sách mới được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao cho sinh viên có năng lực, đồng thời tạo cú huých để thu hút và giữ chân nhân tài khoa học và công nghệ.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), chính sách học bổng áp dụng đối với công dân Việt Nam theo học hệ chính quy, từ sinh viên cử nhân, kỹ sư đến học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ. Học bổng vừa hỗ trợ chi phí học tập và sinh hoạt, vừa mở ra cơ hội để người học tham gia những lĩnh vực trọng yếu của quốc gia.
Đây không chỉ là khoản hỗ trợ học phí mà còn là bệ phóng cho sự nghiệp. Theo dự thảo, đối tượng được xét cấp học bổng gồm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất: Các thí sinh đạt giải Nhất, Nhì, Ba trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế, với thời gian đạt giải không quá ba năm. Nhóm thứ hai: Các thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp từ 22,5 điểm trở lên trong tổ hợp xét tuyển gồm môn Toán và hai môn trong số bốn môn Lý, Hóa, Sinh, tiếng Anh; đồng thời thuộc nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc.
Để duy trì học bổng trong toàn khóa, người học phải đáp ứng các yêu cầu về kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, kỷ luật học tập; đối với bậc sau đại học còn phải đáp ứng yêu cầu về năng lực nghiên cứu khoa học.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ (Đại học quốc gia Hà Nội), chính sách học bổng không chỉ hỗ trợ điều kiện mà còn thể hiện cam kết của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ sở giáo dục đại học trong việc đầu tư đào tạo nhân tài cho đất nước. Chính sách này mở ra cơ hội để những học sinh có năng lực nổi trội, kể cả các em có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được tiếp cận các chương trình đào tạo chất lượng cao. Quan trọng hơn, đây là một trong những trụ cột quan trọng để tạo dựng niềm tin đối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế, qua đó thu hút các tập đoàn lớn đầu tư vào Việt Nam; đồng thời thúc đẩy hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ trong nước phát triển.
Giáo sư Chử Đức Trình cho rằng, giá trị lớn hơn của chính sách là góp phần gắn kết nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục đại học trong một hệ sinh thái phát triển nhân lực chất lượng cao. Khi người học nhìn thấy triển vọng nghề nghiệp rõ ràng sau tốt nghiệp, có cơ hội việc làm ổn định và môi trường nghiên cứu tốt, các em sẽ có thêm niềm tin để lựa chọn và gắn bó lâu dài với lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần một chiến lược phát triển chiều sâu đối với các ngành công nghệ, kỹ thuật và công nghiệp công nghệ cao. Khi chiến lược này được triển khai hiệu quả, đất nước sẽ thu hút thêm nhiều doanh nghiệp lớn, tạo thêm việc làm chất lượng cao.
Ở góc độ một cơ sở giáo dục đại học có thế mạnh đào tạo các ngành kỹ thuật và công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội đánh giá dự thảo Nghị định sẽ tạo ra cú huých đủ mạnh để thu hút sinh viên giỏi và có năng lực nổi trội vào các lĩnh vực trọng yếu.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phong Điền, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, khi lựa chọn ngành học, phụ huynh và thí sinh thường quan tâm đến hai yếu tố quan trọng nhất là cơ hội việc làm và chi phí đào tạo. Với nhiều gia đình, nhất là ở các địa phương còn khó khăn, áp lực tài chính là rào cản khá lớn khiến không ít học sinh giỏi, khó tiếp cận những ngành học có giá trị lớn trong tương lai. Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên theo học các ngành STEM ở Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 30% tổng số thí sinh đăng ký vào đại học, thấp hơn so với nhiều quốc gia và có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Điều này đặt ra thách thức lớn trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định nguồn nhân lực STEM giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển đất nước.
Nếu không có lực lượng lao động dồi dào và chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và kỹ thuật, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phong Điền, ngoài hỗ trợ tài chính, sức hấp dẫn của ngành nghề và triển vọng việc làm đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, để phát triển nguồn nhân lực STEM bền vững, cần có sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục phổ thông. Trong đó, Nhà nước cần có chính sách học bổng, tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội và các nguồn hỗ trợ khác; các trường đại học cần tiếp tục hiện đại hóa chương trình đào tạo, đầu tư mạnh cho hệ thống phòng thí nghiệm và môi trường nghiên cứu; các trường phổ thông cần khơi dậy niềm yêu thích khoa học và định hướng nghề nghiệp cho học sinh từ sớm.
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình, Trưởng phòng Công tác Sinh viên và Truyền thông, Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội) cho rằng: Nếu được triển khai ổn định và lâu dài, học bổng sẽ tạo tác động tích cực đối với cả chất lượng đầu vào và định hướng nghề nghiệp của sinh viên. Ở bậc đại học, dự kiến mức học bổng từ khoảng 3,7-5,5 triệu đồng/tháng có thể giúp sinh viên giảm đáng kể áp lực về học phí, tài liệu, ký túc xá và sinh hoạt tối thiểu. Đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh, mức hỗ trợ tối đa 8,4 triệu đồng/tháng sẽ tạo điều kiện để người học dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và tham gia các nhóm nghiên cứu tại trường, viện.
Danh mục nhóm ngành đề xuất được cấp học bổng gồm 15 nhóm ngành: Sinh học, Sinh học ứng dụng, Khoa học vật chất, Khoa học trái đất, Toán học, Thống kê, Máy tính, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, Kỹ thuật điện-điện tử và viễn thông, Kỹ thuật hóa học-vật liệu-luyện kim và môi trường, Vật lý kỹ thuật, Kỹ thuật địa chất-địa vật lý và trắc địa, Kỹ thuật mỏ và Xây dựng.