Mẹ kể về người con trai duy nhất đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kể về ông Lưu Văn Sìn, chồng mẹ, nhà họa sĩ tài ba.
Trên bàn thờ là bức ảnh ông Lưu Văn Sìn và ảnh của liệt sĩ Lưu Tất Ðạt. Năm nay Mẹ Tuyết 87 tuổi. Bà lấy ông Sìn trong thời gian ông đang theo học hội họa ở trường Boza (Trường cao đẳng Mỹ thuật Ðông Dương). Ông là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ đầu tiên của trường, cùng với các họa sĩ nổi danh Tô Ngọc Vân, Nam Sơn, Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Nguyễn Ðỗ Cung...
Bà Tuyết vừa là người vợ đảm, vừa lo toan kinh tế gia đình giúp ông học tập và sáng tác, vừa tần tảo dạy bảo Lưu Tất Ðạt. Bà còn nhớ như in, trong dịp đi sáng tác ở Tây Bắc năm 1956 để làm triển lãm, lúc đi cùng với anh em được hội cử đi vào dịp cuối năm, bà ngóng ông về đón Tết cùng gia đình, nhưng mãi chẳng thấy ông về. Một ngày áp Tết bà nhận được lá thư ông viết nhờ đồng đội mang về. Thì ra ông không về Hà Nội mà ngược lên Tủa Chùa để sáng tác mấy bức tranh về mùa xuân nơi núi rừng Tây Bắc.
Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội hiện lưu giữ hai bức tranh nổi tiếng của ông, bức "Việt Bắc - 1936" và bức "Cảnh nông thôn - 1956" với lời bình: "Chỉ với mấy bảng màu hối hả, vội vã, anh thanh niên Tày và con ngựa hồng trong tranh của Lưu Văn Sìn đã thức dậy cảm xúc của người xem cực kỳ sống động. Cũng tác giả ấy khi thì lại nhập tâm thầm lặng, trữ tình, thể hiện công phu, nhuần nhị tác phẩm cảnh nông thôn với hòa sắc xanh nâu gợi man mác mảng hồn quê một vùng đồng bằng Bắc Bộ".
Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rồi những ngày hòa bình lập lại, trên miền bắc, nhiều tác phẩm của ông mang hồn quê hương, với cách thể hiện tinh tế lần lượt ra đời. Ông đã vẽ bức tranh lớn "Ðức Phật Di Ðà" phải nhờ địa điểm tại nhà máy cơ khí Trần Hưng Ðạo mới dựng được khung vẽ để kịp chuyến thăm Ấn Ðộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang đi tặng nước bạn.
Người con trai duy nhất của ông bà là Lưu Tất Ðạt. Mười lăm tuổi, Lưu Tất Ðạt được nghệ sĩ Trần Văn Lắm chọn làm mẫu để dựng tượng Lý Tự Trọng, bởi ông thấy khuôn mặt hiền hòa mà đầy cương nghị của anh phù hợp với nhân vật. Suốt mấy tháng trời, cứ sau giờ học là anh đi bộ đến nhà nghệ sĩ Lắm đứng khoảng ba tiếng đồng hồ làm mẫu, nhiều khi phải cố quên đi cái đói để họa sĩ kịp hoàn thành tượng dự triển lãm nghệ thuật thanh niên toàn quốc tháng 12 năm 1956.
Bốn năm sau, Lưu Tất Ðạt tình nguyện nhập ngũ (anh là con một, không có tên trong danh sách đi nghĩa vụ). Sau mấy tháng huấn luyện, anh được chuyển về học kỹ thuật súng pháo và sau đó về làm cán bộ quân khí ở Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ thuộc đoàn 312, đóng trên đất bạn Lào. Trong trận chiến đấu bảo vệ cầu P. sáng 27-2-1966, phân đội của anh bị trúng bom. Phân đội trưởng Nguyễn Ngọc Cúc và Ðạt cùng bị vùi chung một hố. Lúc đầu hai người còn kịp nói trong hơi thở của nhau đợi người đến cứu. Nhưng lại một đợt máy bay ào tới. Tiếng bom lại nổ. Ðạt nói với Cúc trong tiếng rung của đất đá:
- Có lẽ anh em mình đành chịu hy sinh ở đây thôi anh ạ!
Lát sau bỗng nghe tiếng Ðạt hô vang giữa tiếng nổ của bom đạn: "Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm". Rồi anh Cúc mê man, bất tỉnh. Khi tỉnh lại, Cúc biết mình đã được đồng đội cứu thoát ra khỏi căn hầm đổ nát. Còn Ðạt đã vĩnh viễn ra đi!
Tấm gương hy sinh anh dũng của Lưu Tất Ðạt đã được anh Cúc kể lại với tổ phóng viên báo Quân đội Nhân dân. Và các bài viết "Hơi thở cuối cùng dành cho Ðảng", "Ðường gai góc nở nhiều hoa thắm" đã được đăng trên báo những ngày sau đó. Anh đã góp chiến công cùng đơn vị, được Bác Hồ gửi điện khen có công trong 500 ngày đêm (1964-1966) bảo vệ hành lang vận chuyển tiếp viện cho chiến trường và được Nhà nước tặng thưởng Tiểu đoàn 14 danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVTND.
Năm 1994, Nhà nước ra Pháp lệnh phong tặng Danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, bà Phạm Thị Tuyết là một trong số được phong tặng danh hiệu cao quý: "Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng" đợt đầu tiên. Tuổi đã cao nhưng bà vẫn tham gia Ban Chấp hành Hội Phụ nữ phường Quang Trung (quận Ðống Ða, Hà Nội). Bà thường nói: "Tuy tuổi cao, sức yếu, tôi vẫn tâm niệm một điều, còn sống ngày nào thì cố gắng làm việc có ích cho nước, cho dân".
Bà Tuyết đã cùng hội phụ nữ cơ sở tham gia hòa giải nhiều vụ việc, chăm sóc, bảo ban các cháu thiếu niên ở phường. Những ngày tháng 7 này, bà Tuyết quây quần cùng con cháu, họ tộc, dân phố và nhiều lắm những đồng đội của con, những học trò của ông Sìn. Mẹ nói với chúng tôi: Ông Sìn và anh Ðạt còn sống đến hôm nay chắc là vui lắm đó. Thời thực dân, đế quốc, cơ cực đủ bề...