Chợt một sáng mai, ngước nhìn lên, trên những cành khô khốc, sần sùi, nứt nẻ, nhu nhú những chấm xanh nõn. Gió vẫn phảng phất hơi lạnh chưa tan giá hẳn. Nắng hửng dè dặt không đủ ấm làn da, ửng đôi má. Nhưng lòng đã thấy náo nức. Khi thấy những chiếc lá xanh mềm lác đác vươn lên trên những cành cây khẳng khiu. Khi cây xoan già trước ngõ đã xanh rì lá non. Trong bao thứ cây, có lẽ xoan là loài trút lá sớm nhất trong mùa đông. Nhưng lại trổ lá sớm nhất, khi gió đông còn rơi rớt. Rũ sạch lá vàng, thu hết nhựa sống và trong lớp vỏ khô cằn, để chống chọi cái lạnh khắc nghiệt. Thế nên, mùa xuân vừa chớm đến, xoan đã khép tán. Lá ra đến đâu, hoa ra đến đó.
Sân nhà hồi ấy đều là sân đất. Ngõ xóm cũng rặt đường đất. Nên ngõ nào cũng trồng một gốc xoan. Xoan bao quanh mảnh vườn như một hàng rào, ở dưới là rặng mồng tơi hay rau ngót. Một đời người, mấy mùa xoan nở, xoan tàn. Trồng xoan là vun trồng hy vọng. Một lứa xoan dăm sáu gốc, chẳng mất công chăm sóc, tưới tắm gì. Xoan cứ mọc lên thẳng tắp, không lo sợ bất kỳ loại sâu nào. Chỉ ngót chục năm, đã có những cây gỗ xoan nhẹ mà chắc, để dựng một căn nhà đẹp như trong mơ. Nên mỗi năm, mỗi mùa xoan ra hoa, niềm tin và hy vọng lại thức dậy trong lòng. Mà niềm vui thì cũng mỏng manh, nhẹ tênh như mầu hoa xoan. Phảng phất như sương mờ giăng. Khắp đất trời vào xuân. Thoang thoảng, ngan ngát mùi hoa xoan như có, như không. "Quá mù ra mưa", sương mù buổi sáng hay sương chiều khi ngày sắp hết, nặng trĩu, kết đọng thành những hạt mưa bụi. Mưa không đủ ướt đất, ướt người. Chỉ làm cho đất ẩm, không khí chùng xuống, níu mùi xoan từ trên cao xuống, la đà. Mỗi khi xoan trổ hoa, từng chùm tim tím, cũng là lúc muỗi, dĩn sinh nở, sâu bọ sinh sôi.
Hồi ấy, mỗi ngôi nhà chỉ thắp một ngọn đèn điện đỏ quạch. Thế cũng đủ soi tỏ, ấm ba gian nhà ngói. Hồi ấy, cứ đêm xuống, nhà nào cũng đều đốt bồ kết khô để xua đuổi muỗi. Khói bồ kết đầy nhà, luồn lách vào mọi ngóc ngách, xó xỉnh. Khói đến đâu là muỗi bay ra đến đó. Trong làn khói dày đặc, ngào ngạt, tưởng là ngột ngạt, khó thở. Nhưng lại làm cho đầu óc dễ chịu, thoáng đãng. Ngọn đèn điện duy nhất chỉ dành cho con ngồi học. Ðêm đêm, bóng mẹ lầm lũi chong một ngọn đèn dầu, lọ mọ, đốt muỗi cho con. Dưới chân bàn, nơi tối nhất, vẫn có những con muỗi ẩn náu. Mỗi khi chợt cúi nhìn xuống mái tóc bạc của mẹ, nhận ra mùi bồ kết, mùi hoa xoan và cả mùi lam lũ, vất vả. Xoan nở rồi xoan tàn, rụng đầy ngõ, trước sân, trải một lớp mỏng như rắc trấu. Rồi gió xuân cũng mang mùi hoa xoan bay đi, dường như không còn để lại một chút dư vị nào. Khi ấy, con chưa chuẩn bị cho mình để mấy chục năm sau, đối mặt với nỗi nhớ mẹ, nhớ mầu hoa xoan tím và mùi hoa lơ đãng vương trong tóc mẹ. Bởi vì, cứ nghĩ mình sẽ không bao giờ thiếu mẹ, thiếu tới mức bơ vơ, cô đơn. Thiếu ngay cả khi đã đầy đủ như bây giờ. Nỗi nhớ có khi mỏng manh như sợi tơ, sợi khói. Nhưng không thể nào dứt nổi. Là vì nó đã cuộn chặt vào ký ức tuổi thơ. Kéo dài theo năm tháng, cho đến tận bây giờ. Nhất là khi, trong "sợi" nhớ day dứt ấy, đã se sắt mùi hoa xoan với sắc mầu tim tím bịn rịn, níu giữ.
Nên bây giờ, thoáng thấy một gốc xoan còn sót lại nơi đầu ngõ xóm, ở một góc khuất làng quê sắp lên đời đô thị, lại tần ngần dừng lại, ngước nhìn lên. Có phải những chùm hoa tím mờ như sương khói kia, con đã từng lấy sào kều xuống cho mẹ, ngày ấy. Ngày xưa ấy, mùa xuân ấy, lấy đâu ra một bông hoa hồng tặng mẹ? Ðất trời chuyển vào xuân, rất nhiều loài hoa đua sắc, đua hương. Hoa xoan giản dị, mộc mạc, đến mức không ai nhận ra. Như có những kiếp người ngỡ tưởng không sắc, không hương mà không bao giờ quên được.