Mâm cỗ Tết

Mỗi năm người Việt mình có bao nhiêu dịp giỗ, Tết. Giỗ cụ tổ, cụ cố, rồi giỗ ông bà nội ngoại, giỗ bố, giỗ mẹ. Lại cái giỗ cụ thủy tổ, tằng tổ khai sinh ra dòng họ mình mà gia phả đã ghi gõ. Giỗ nào cũng phải có mâm cơm, chén rượu. Các cụ cũng là hưởng hương hoa thôi. Cũng là lòng thành kính với tổ tiên còn mâm cao cỗ đầy hay đơn giản, thanh bạch là tùy hoàn cảnh của con cháu, cái quan trọng là phải nhớ tới ơn cao, đức cả của những người đi trước đã dày công vun đắp cho con cháu, cho dòng họ để lại cái đức, cái siêng năng cho cháu con noi gương, tự hào.

Thế nhưng mâm cỗ Tết thì dù giàu, nghèo cũng phải chu đáo hơn bởi mỗi năm Tết Nguyên đán chỉ có một lần. Mâm cỗ nào, ngày giỗ, ngày hội nào mà chả có thịt, có cá. Nhà giàu, cỗ bàn của gia đình các vị quan lại cao cấp còn có bóng cá, vây cá mập, bào ngư. Sang trọng lắm và giá cả thì cũng chót vót trên trời. Thôi thì tùy tâm nhưng với mâm cỗ Tết cúng gia tiên vào chiều 30 và sáng mồng một Tết thì dứt khoát phải có bánh trưng, bánh tét. Ðấy mới thật sự là món ăn cổ thuần Việt. Cũng chỉ làm từ những thứ ta vẫn thấy, vẫn dùng hằng ngày gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn thế nhưng đố tìm thấy món ăn này của các dân tộc khác.

Bánh chưng, bánh dầy, ấy là tượng trưng cho quan niệm của người Việt cổ là trời thì tròn mà đất thì vuông, tương truyền có từ thời các vua Hùng, ôm trong lòng nó đủ các vật phẩm thiết yếu nhất nuôi sống con người. Bánh được gói bằng lá dong xanh, một vật phẩm của rừng, vuông chằn chặn nên khi bóc chiếc bánh ra một mầu xanh mướt đẹp mắt như mầu xanh cây cỏ nảy lộc mùa xuân phủ khắp đất trời.

Ðể chuẩn bị có được một nồi bánh chưng là cả một kỳ công. Rất tốn củi, vì vậy ngay từ cuối thu, khi những đợt gió heo may chỉ còn vương vấn và gió mùa đông bắc đã rình rập thổi về, là mọi nhà lại chuẩn bị củi đun cho nồi bánh chưng đón năm mới, tùy số bánh sẽ được gói vào năm đó. Dăm, bảy mươi cân gạo hoặc hơn nữa là tùy số người của mỗi gia đình. Xưa kia, dưới một mái nhà có khi tới ba, bốn thế hệ cùng chung sống thì số bánh phải gói đâu có thể ít. Những gộc tre còn sót lại ngoài vườn, trong bếp được xếp lại gọn gàng. Gộc tre già mà nấu bánh thì còn gì bằng, đượm lửa lắm mà tàn tro thì lại trắng sạch. Trấu vụ mùa đã đầy trong cót và góc bếp. Vẫn phải nhờ người dùng rìu dọn sạch những gộc tre còn lại ở bụi tre góc vườn thì mới đủ. Gạo, đậu xanh đã ngâm, đã đãi kỹ, thịt được tẩm ướp. Lá dong đã rửa thật sạch. Những chiếc bánh chưng đã được xếp gọn trong chiếc nồi đồng cỡ lớn dường như chỉ dành cho việc nấu nướng ngày Tết. Bếp lúc nào cũng đỏ lửa, nồi bánh sôi sùng sục, làn khói lan tỏa trên mái bếp rồi vươn cao tới tận ngọn tre. Và quanh bếp lửa bập bùng, lũ trẻ díp mắt đợi khi vớt bánh sẽ nhận được những chiếc bánh nhỏ xinh. Dền lắm, ngon lắm, những miếng bánh chưng đầu tiên của một năm mới đang cận kề. Mà lạ, quanh năm nào có lạ gì miếng bánh chưng, nhưng sao những miếng bánh chưng ở mâm cỗ Tết Nguyên đán đầu năm mới sao lại ngon và đáng quý đến thế. Ấy bởi đây là lộc của tổ tiên, của đất trời, âm dương hòa hợp lúc Xuân về. Bánh đã vớt, đã nén kỹ, ấy là lúc chuẩn bị, nấu nướng mâm cỗ cúng gia tiên.

Chiếc cối đại dùng để đập lúa vào mùa gặt đã rửa kỹ đang ngự giữa sân gạch và mấy thanh niên lực lưỡng đang giã giò. Những miếng thịt thăn còn nóng hổi vừa bóc ra từ con lợn mà làm giò lụa thì còn gì ngon, thơm bằng. Rồi giò thủ cũng đã treo nơi góc hàng hiên. Mâm cỗ Tết sao thiếu được bát măng lưỡi lợn ninh với chân giò, thịt mông sấn. Bát bóng bì đủ vị nào thịt nạc, nấm hương, su hào, cà rốt (đã được tỉa tót hình hoa, lá từ hôm trước), đậu hà lan. Ðĩa thịt gà rắc lá chanh thái chỉ vàng ươm. Ðĩa thịt ba chỉ, thịt mông sấn, đĩa sườn sốt chua ngọt. Ðĩa cá kho khô dành để ăn với miếng bánh chưng kèm dưa hành, củ kiệu. Ðĩa hạnh nhân để các cụ, các ông nhắm rượu vừa bùi, vừa béo, vừa mát bởi su hào, cà rốt, lạc, thịt nạc, mực khô thái chỉ, có khi còn thêm những miếng bóng bì nho nhỏ chừng hai đốt ngón tay. Trên đĩa hạnh nhân là những cọng rau mùi xanh mướt. Và cũng không thể thiếu được bát miến, đĩa xào (tùy theo gia đình, vùng miền đó là thịt bò, mực tươi, thăn cá quả), còn rau xanh thì dịp này phong phú lắm nào su hào, cà rốt, cà chua, khoai tây, xúp-lơ, hành tây, tỏi tây, cần tây, đủ thứ đậu (đậu đũa, đậu côve, đậu hà lan), bí, rau cải... Món ngon thuần Việt còn bao thứ nữa, tùy vùng miền, tùy đặc sản địa phương khiến mâm cỗ Tết như một cuộc triển lãm của ngon, vật lạ cùng tài nấu nướng, chế biến của các bà, các chị quanh năm đầu tắt mặt tối kiếm cơm nay có mấy ngày nghỉ Tết đầu năm trước là làm mâm cỗ cúng gia tiên, sau là để bố mẹ, chồng con, bạn bè thân thiết có dịp thưởng thức.

Mâm cỗ Tết nhiều chất đạm, lắm rau xanh, đủ năng lượng cho các cuộc chúc Tết, du xuân xa gần. Quanh mâm cỗ Tết mọi người từ già đến trẻ đều vui vẻ họp mặt để rồi sau mấy ngày họp mặt đầu năm ai lại vào việc nấy, trẻ nhỏ đến lớp, đến trường, người lớn tới công sở, công ty, xí nghiệp, văn phòng, ruộng vườn. Có người lênh đênh giữa biển khơi trên những con tàu đánh tôm cá, tàu vượt đại dương, có người lại phải bôn ba xứ người để lập thân, lập nghiệp.

Và tất cả hẹn nhau vào dịp này năm tới lại cùng nhau họp mặt bên mâm cỗ Tết để hàn huyên, tâm sự bao chuyện xảy ra trong một năm qua. Mâm cỗ Tết của người Việt mình là nơi gắn kết tình cảm gia đình, họ hàng, làng mạc, xóm giềng để dù có đi đâu, về đâu vẫn là nhớ đến nhau, nhớ tới quê hương, bản quán nơi đã sinh ra mình, ra gia tộc mình.

Có thể bạn quan tâm