Luật Thủ đô (sửa đổi): “Mở” tối đa không gian tự chủ, “khóa” chặt trách nhiệm để tạo đột phá

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) thiết kế cơ chế phân quyền sâu rộng, thí điểm cả những chính sách chưa có tiền lệ song gắn chặt với trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ tạo không gian thể chế đủ rộng để Thủ đô Hà Nội có đủ thẩm quyền và công cụ thực hiện sứ mệnh dẫn dắt trong kỷ nguyên mới.

Luật Thủ đô được ban hành lần đầu năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho Hà Nội trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ triển khai, trước thực tiễn phát triển của Hà Nội cũng như yêu cầu mới của đất nước, nhiều quy định đã bộc lộ những hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu mới.

Chính vì vậy, việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này là yêu cầu cấp thiết không chỉ nhằm khắc phục những bất cập, mà còn là bước đi chiến lược tạo không gian thể chế đủ rộng để Thủ đô phát huy vai trò đầu tàu, cực tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước.

Tại cuộc Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới” vừa được Báo Nhân Dân tổ chức, ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp; Thành viên Tổ soạn thảo dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) cho biết: Việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này hướng tới mục tiêu cốt lõi là hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định với tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị thế trung tâm chính trị-hành chính quốc gia và trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học của cả nước, bảo đảm Hà Nội có đủ thẩm quyền và công cụ để thực hiện sứ mệnh dẫn dắt trong kỷ nguyên mới.

ndo-br-talk-thu-do-chuan-9913.jpg
Tọa đàm “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới”. (Ảnh: ND)

Trao cho Hà Nội “tự chủ, tự quyết” gắn chặt với “tự chịu trách nhiệm”

Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi là phân cấp, phân quyền sâu rộng chưa từng có tiền lệ cho chính quyền Thủ đô gắn với trách nhiệm giải trình.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Hoàn cho biết, Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2026 đã thiết lập một trạng thái cân bằng động giữa việc “mở” tối đa không gian tự chủ và “khóa” chặt chẽ trách nhiệm giải trình để bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả,.

Theo đó, nội dung “mở” được thể hiện qua việc chuyển đổi tư duy từ “thực thi chính sách” sang “thiết kế chính sách”, tạo điều kiện cho Thủ đô chủ động bứt phá. Cụ thể:

Về quy mô thẩm quyền: Dự thảo Luật thực hiện phân quyền triệt để, toàn diện với tổng cộng 192 thẩm quyền được giao cho chính quyền Thành phố. Đáng chú ý, có tới 85 thẩm quyền mới hoàn toàn và 57 thẩm quyền quy định khác với các cơ quan nhà nước cấp trên...

ndo-br-a-hoan-2-2221.jpg
Ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp; Thành viên Tổ soạn thảo dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). (Ảnh: ND)

Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng “mở” về dư địa lập quy: Thành phố không chỉ thực hiện luật mà còn được giao quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền khác với quy định của Trung ương nhằm cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục và thúc đẩy chuyển đổi số hoặc quy định biện pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ.

Hà Nội cũng được quyền quyết định thí điểm các cơ chế, chính sách mới hoặc khác quy định hiện hành đối với những vấn đề thực tiễn phát sinh mà pháp luật chưa dự liệu hết, đặc biệt là trong các mô hình kinh tế mới, khoa học công nghệ và quản trị đô thị tiên tiến…

Ở chiều ngược lại, ông Hoàn cho hay, để không xảy ra tình trạng lạm quyền khi được giao quyền năng lớn, dự thảo Luật thiết lập hệ thống “khóa” đa tầng gồm:

“Khóa” bằng các nguyên tắc giới hạn: Việc phân quyền không được phương hại đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền quốc gia hoặc làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn tài chính quốc gia.

Một điểm “khóa” rất quan trọng là chính quyền Thành phố không được phân cấp, ủy quyền tiếp đối với các thẩm quyền quan trọng đã được giao trực tiếp như: Tổ chức bộ máy, biên chế; quy hoạch tổng thể; chính sách tài chính ngân sách đặc thù; và các dự án đầu tư quan trọng… Điều này nhằm bảo đảm tính tập trung, thống nhất và nâng cao trách nhiệm giải trình của cấp cao nhất tại Thành phố.

Trách nhiệm giải trình và giám sát là bước “khóa” chặt sau cùng khi quy định Thành phố có nghĩa vụ công khai, minh bạch và thực hiện giải trình về các mục tiêu, phạm vi tác động cũng như đánh giá rủi ro, hệ quả kinh tế-xã hội khi áp dụng các cơ chế đặc thù. Đồng thời, Quốc hội và Chính phủ giữ quyền giám sát tối cao, trong đó Thủ tướng có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ các văn bản của Thành phố nếu trái luật.

Có thể nói rằng, dự thảo Luật đã trao cho Hà Nội chủ động “tự chủ, tự quyết” nhưng gắn chặt với “tự chịu trách nhiệm” và Hà Nội trở thành một “phòng thí nghiệm thể chế” có kiểm soát chặt chẽ của Trung ương.

Thí điểm để bứt phá

Thí điểm cơ chế, chính sách trong dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2026 được xem là một trong những điểm đột phá nhất, đưa Hà Nội thành một “phòng thử nghiệm thể chế” cho cả nước. Luật Thủ đô sửa đổi cho phép Hà Nội thí điểm cả những chính sách chưa có tiền lệ. Đây được cho là một bước đi rất mạnh mẽ thể hiện đổi mới tư duy xây dựng pháp luật.

Theo ông Hoàn, việc cho phép Hà Nội thí điểm những chính sách chưa có tiền lệ mang lại ba ý nghĩa chiến lược:

Chủ động ứng phó với sự biến động: Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và các mô hình kinh tế mới phát triển vũ bão, luật pháp không thể dự liệu hết mọi tình huống. Cơ chế thí điểm giúp Thủ đô chuyển từ vị thế “thực thi chính sách” sang “thiết kế chính sách” để kịp thời xử lý các vấn đề thực tiễn phát sinh.

Giải quyết các "điểm nghẽn" kinh tế-xã hội: Thí điểm tạo hành lang pháp lý để tìm ra giải pháp cho những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân hoặc sự phát triển của Thủ đô mà khung pháp lý hiện tại chưa có quy định.

Sứ mệnh tiên phong cho cả nước: Hà Nội đóng vai trò là địa bàn thử nghiệm các cơ chế, chính sách đột phá. Kết quả từ các cuộc thí điểm này (đặc biệt tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc) sẽ được tổng kết, đánh giá để nhân rộng trên phạm vi toàn quốc,.

Để bảo đảm việc “thử nghiệm để bứt phá” không dẫn đến “rủi ro thể chế” hay lạm quyền, dự thảo Luật thiết lập những ranh giới đỏ và quy trình kiểm soát đa tầng như:

Xác lập "Vùng cấm" thí điểm. Theo đó, tuyệt đối không thực hiện thí điểm trong các lĩnh vực: quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo, các vấn đề liên quan chủ quyền quốc gia hoặc chỉnh sửa gen người.

Việc thí điểm được thực hiện theo nguyên tắc bảo vệ lợi ích cốt lõi, phải bảo đảm không phương hại đến quyền con người, quyền công dân; không làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia và sức khỏe cộng đồng.

Việc thí điểm cũng được thực hiện theo quy trình phê duyệt nghiêm ngặt. Hội đồng nhân dân Thành phố chỉ ban hành nghị quyết thí điểm sau khi được cơ quan có thẩm quyền của Đảng chấp thuận. Nghị quyết phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, thời gian, biện pháp quản lý rủi ro và điều kiện để chấm dứt thí điểm.

Chính quyền Thành phố phải báo cáo định kỳ kết quả thí điểm cho Hội đồng nhân dân và cơ quan có thẩm quyền Trung ương. Đặc biệt, Thành phố phải thực hiện giải trình và đánh giá rủi ro, hệ quả kinh tế-xã hội của việc áp dụng các chính sách đặc thù.

thu-do-hn.jpg
Diện mạo đô thị Thủ đô Hà Nội ngày càng khang trang, hiện đại. (Ảnh: Hải Linh)

Cơ chế đặc thù để phát triển, không phải để tạo đặc quyền

Trước băn khoăn của bạn đọc về cơ chế đặc thù liệu có trở thành “đặc quyền”, ông Hoàn cho biết: Trong quá trình xây dựng dự án Luật, Tổ soạn thảo đã tiếp cận vấn đề này với tinh thần rất thận trọng theo nguyên tắc: Cơ chế đặc thù là để phát triển, không phải để tạo đặc quyền. Mục tiêu là vừa tạo dư địa linh hoạt cho Hà Nội, vừa giữ vững kỷ cương pháp lý và sự công bằng trong hệ thống.

Thứ nhất, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và điều ước quốc tế. Mọi cơ chế đặc thù đều phải đặt trong khuôn khổ của Hiến pháp và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia. Theo đó, Hà Nội không thể ban hành chính sách hạn chế quyền công dân trái với Hiến pháp; các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài phải phù hợp với cam kết quốc tế về thương mại và đầu tư. Đây là “ranh giới cứng” để bảo đảm đặc thù nhưng không vượt quá giới hạn pháp lý.

Thứ hai, gắn cơ chế đặc thù với trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Cơ chế đặc thù không phải là “quyền tự do tuyệt đối” mà luôn đi kèm trách nhiệm giải trình rõ ràng. Đồng thời tăng cường công khai, minh bạch và giám sát xã hội. Minh bạch và trách nhiệm giải trình chính là “hàng rào mềm” nhưng rất hiệu quả để ngăn ngừa tùy tiện trong xây dựng và thực thi chính sách đặc thù vượt trội.

anh-hoan-1-471.jpg
Ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp; Thành viên Tổ soạn thảo dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). (Ảnh: ND)

Thứ ba, việc ban hành văn bản để thi hành Luật Thủ đô phải tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ về ban hành văn bản; thực hiện đánh giá tác động của chính sách trong dự thảo văn bản... Trường hợp cần ban hành văn bản khác với quy định của văn bản cấp trên thì phải đánh giá sự cần thiết, tính cân đối, hợp lý của việc cần phải ban hành văn bản; xác định rõ mục tiêu và dự kiến kết quả cần đạt được khi ban hành văn bản.

“Cách tiếp cận của Tổ soạn thảo là xây dựng một cơ chế đủ linh hoạt để tạo đột phá nhưng cũng đủ chặt chẽ để không biến thành đặc quyền riêng”, ông Hoàn nhấn mạnh.

Cần một hệ thống tổ chức thực hiện đồng bộ, chủ động và trách nhiệm.

Một vấn đề thực tiễn khác cũng đang được đặt ra là làm thế nào để các cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời nhưng không rơi vào tình trạng “nhanh ở khâu xây dựng, chậm ở khâu thực thi”.

Theo ông Hoàn, khoảng cách giữa xây dựng chính sách và tổ chức thực thi là một vấn đề rất lớn trong thực tiễn.

Từ kinh nghiệm xây dựng pháp luật, theo ông Hoàn, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm để Luật Thủ đô khi được Quốc hội thông qua sớm đi vào thực tiễn:

Trước hết, cần chuẩn bị sớm và đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong quá trình xây dựng Luật, Hà Nội phải đồng thời xây dựng dự thảo văn bản thi hành Luật Thủ đô, bảo đảm khi Luật có hiệu lực thì cơ sở pháp lý cho thực thi cũng đã sẵn sàng.

Cùng với đó phải thiết kế chính sách gắn liền với điều kiện thực thi ngay từ đầu.
Mỗi quy định đưa vào văn bản thi hành Luật Thủ đô cần phải rõ về nguồn lực, tổ chức thực hiện và khả năng triển khai.

Phân công và giao rõ trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức thực hiện; gắn chặt với trách nhiệm giải trình của cơ quan và người đứng đầu. Theo ông Hoàn, khi có trách nhiệm rõ ràng, việc tổ chức thực hiện sẽ quyết liệt và hiệu quả hơn.

Đi cùng với đó, là tăng cường cơ chế theo dõi, đánh giá. Những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện cần được phát hiện sớm và xử lý nhanh, tránh để kéo dài làm mất “thời điểm vàng” của chính sách.

“Có thể khẳng định rằng muốn rút ngắn khoảng cách giữa luật và thực thi, không chỉ cần một đạo luật tốt, mà cần một hệ thống tổ chức thực hiện đồng bộ, chủ động và trách nhiệm. Đó chính là điều kiện để chính sách đi nhanh vào cuộc sống và phát huy hiệu quả thực chất”, ông Hoàn khẳng định.

Chỉ khi “điểm nghẽn” về thực thi được tháo gỡ, thì toàn bộ các cơ chế, chính sách của Luật Thủ đô sẽ được kích hoạt một cách đồng bộ, tạo ra đột phá thực chất và bền vững cho Thủ đô trong thời gian tới.

Có thể bạn quan tâm