Hệ xương có các chức năng: Chống đỡ và duy trì tư thế của cơ thể, ảnh hưởng trực tiếp đến chiều cao thân thể và thể hình, bảo vệ các cơ quan, các tổ chức bên trong cơ thể; là kho dự trữ khoáng chất lớn nhất, có vai trò quan trọng trong điều tiết cân bằng muối khoáng của cơ thể. Cơ thể chúng ta cao hay thấp, chủ yếu phụ thuộc sự sinh trưởng và phát dục của hệ xương. Hệ xương phát triển không bình thường, bị rối loạn gây nên hiện tượng bất thường về chiều cao thân thể, trong đó có bệnh lùn. Ở đây, chúng ta không bàn đến người lùn, tức là người có thân hình thấp bé do lùn nguyên thủy, lùn gia tộc, lùn dòng họ. Bệnh lùn chỉ những người mắc một thứ bệnh nào đó dẫn đến cơ thể thấp bé, như suy giảm chức năng tuyến yên, lùn giảm năng tuyến giáp...
Mặc dù không có tiêu chuẩn chung cho tất cả các nước để xác định người bị bệnh lùn, chúng tôi tạm giới thiệu các cách phân loại bệnh lùn: Căn cứ triệu chứng lâm sàng của các cơ quan, tổ chức cơ thể có thể gây ra bệnh lùn được xếp chung vào nhóm các bệnh thực thể; Những người lùn nhưng không có bệnh gì rõ rệt được xếp vào nhóm lùn bình thường; Căn cứ bệnh phát sinh từ tuyến nội tiết gọi là lùn do nội tiết (thường chiếm khoảng 21%); Căn cứ lứa tuổi để phân loại, có các loại lùn do trở ngại trao đổi chất, do dậy thì muộn, do tâm lý - xã hội...
Cần tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới hệ xương và hiện tượng lùn để hiểu sự phát triển bình thường của chiều cao thân thể người, tìm các biện pháp thích hợp chăm sóc chiều cao thân thể, nhằm khai thác hết tiềm năng ở mỗi con người, không bị uổng phí. Có phải cha mẹ đều thấp chỉ có thể sinh ra những đứa con thấp bé không? Câu trả lời là không! Chiều cao của con người không chỉ do di truyền quyết định, mà chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố hậu thiên (môi trường, hoàn cảnh và điều kiện sống, lối sống...). Kết quả nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy mức độ ảnh hưởng lớn nhất đối với sự phát triển chiều cao thân thể là dinh dưỡng (31%), tiếp đến di truyền (23%), luyện tập TDTT (20%), môi trường (16%), tâm lý xã hội (10%). Rõ ràng, yếu tố di truyền chỉ chiếm 23% còn các yếu tố hậu thiên tập nhiễm chiếm tới 77%.
Chiều cao thân thể của gia đình giáo sư Kawabata Aiôshi là một minh chứng: Cụ ông và cụ bà thân sinh giáo sư chỉ cao 152 cm và 147 cm; nhờ nỗ lực bản thân nên giáo sư cao 166 cm; nhờ sự chăm sóc của giáo sư một cách khoa học nên con trai ông cao 173 cm; con gái 154 cm. Còn quan điểm của giáo sư Ishogai Kimioshi: ềCoi ăn uống và luyện tập TDTT là hai bánh xe của sự phát dục cơ thể, tăng trưởng chiều cao thân thể, chúng cần phối hợp nhịp nhàng với nhau. Qua nhiều năm nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, giáo sư đi tới kết luận: Chỉ cần mỗi người chú ý khai thác tiềm năng chiều cao thân thể của mình, thì nhất định chiều cao thân thể sẽ tăng một chút so với phát triển tự nhiên thiếu chăm sóc; hơn thế nữa nếu thực hiện theo cách của tôi thì cho dù người đã ngừng phát dục, quá tuổi 30, vẫn có tới 99% số người cao thêm được 2,5 cm. Nếu ở tuổi tiền dậy thì và dậy thì, không chỉ 2,5 cm mà có thể tăng trưởng chiều cao thân thể tới giới hạn tối đa của mỗi người.
Các biện pháp chung nhằm chăm sóc chiều cao thân thể của người Nhật Bản sau đại chiến thế giới lần thứ hai được tiến hành 25 - 30 năm, chủ yếu là chăm sóc dinh dưỡng và TDTT. Bên cạnh đó chú ý hướng dẫn người dân thực hiện nếp sống điều độ, bảo đảm tốt giấc ngủ, không nghiện thuốc lá, nghiện rượu... Người Nhật Bản tổ chức nghiên cứu sâu về di truyền, nhưng ứng dụng các giải pháp can thiệp đối với bệnh lùn chỉ có mức độ nhất định, vì đắt tiền, không thể ứng dụng rộng rãi. Ở đây, chúng tôi chỉ giới thiệu khái quát hướng ứng dụng về dinh dưỡng và TDTT của Nhật Bản.
Về dinh dưỡng, từ năm 1945, Chính phủ Nhật Bản đã chịu chi phí bữa ăn trưa cho tất cả học sinh tiểu học, không chỉ cho học sinh mẫu giáo, chứng tỏ Nhà nước Nhật Bản có thể tiết kiệm các khoản chi khác, nhưng không ngại chi để tăng chất lượng nguồn lực lao động, cải thiện chiều cao thân thể. Người Nhật Bản sớm tiến hành nghiên cứu để bảo đảm chế độ ăn uống hợp lý, có đầy đủ các chất dinh dưỡng. Nhóm thứ nhất, bao gồm các chất dinh dưỡng sinh năng lượng như đường, đạm, mỡ. Ðặc biệt chú ý cung cấp đủ lượng protid có chất lượng cao, các acid amin không thay thế; Nhóm thứ hai, các chất dinh dưỡng không sinh năng lượng như nước, muối khoáng, vitamin và các nguyên tố vi lượng. Ðặc biệt là can-xi, phốt-pho, kẽm, vitamin D...
Nhật Bản rất chú trọng phát triển và đầu tư cho TDTT trường học. Ðể có tác dụng trực tiếp góp phần tăng chiều cao thân thể, Nhật Bản đã nghiên cứu và hướng dẫn những loại bài tập thể dục đặc hiệu (ở ta chưa nghiên cứu biên soạn). Nguyên tắc soạn thảo các bài tập để phát triển chiều cao thân thể là: tập với lượng vận động xấp xỉ trung bình, vừa sức, nằm trong vùng trao đổi chất ưa khí; vận động toàn thân, đặc biệt vận động chi dưới; kéo dãn cơ thể. Các bài tập phải bảo đảm tính nhịp điệu, tính toàn diện, tính thuận nghịch, tính hứng thú, tính liên tục và hệ thống. TDTT là giải pháp rất khó thực hiện trong thực tiễn, cho nên được Nhật Bản rất quan tâm, mặc dù giải pháp dinh dưỡng quan trọng hơn.