Kiên Giang ứng phó biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BÐKH) thông qua các dạng hình thiên tai đã và đang gây tác hại mạnh đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Dù đã chủ động thực hiện nhiều giải pháp nhằm hạn chế thiên tai, ứng phó BÐKH, tuy nhiên với một địa bàn rộng và địa hình phức tạp như Kiên Giang, công việc này vẫn đang gặp nhiều khó khăn.

Tác hại không nhỏ

Chúng tôi trở lại vùng tứ giác Long Xuyên gồm bốn huyện là Hòn Ðất, Kiên Lương, Giang Thành và thị xã Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang sau gần một năm lũ dữ cuồn cuộn tràn về. Rút kinh nghiệm từ năm trước, chính quyền và người dân nơi đây đang tích cực chuẩn bị sẵn sàng "đón" lũ. Tại Kiên Giang lũ diễn biến chậm nhưng kéo dài trong suốt thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 hằng năm và đỉnh lũ vào nửa cuối tháng 10. Liên tiếp trong ba năm 2000, 2001, 2002 và gần đây là năm 2011, lũ lớn đã gây thiệt hại nặng về kinh tế của tỉnh, tính mạng, tài sản của người dân. Tại cánh đồng ở xã biên giới Vĩnh Ðiều, huyện Giang Thành, chúng tôi gặp lại anh Nguyễn Văn Dự, người nông dân này đã bị cơn lũ dữ năm ngoái cướp đi gần ba ha lúa hè thu chỉ còn độ 10 ngày là đến kỳ thu hoạch. "Mấy chục năm qua, chưa có trận lũ nào lớn như năm ngoái. Nước về rất nhanh chỉ sau vài ngày cả một cánh đồng toàn nước là nước. Lũ vùng này giờ đây không còn theo quy luật nữa", anh Dư nhớ lại.

Rời Giang Thành, chúng tôi trở về huyện Hòn Ðất, nơi mỗi năm hứng chịu ít nhất một trận lũ, riêng các xã nằm ven biển còn phải chịu thêm tình trạng xâm nhập mặn. Ông Tống Giang Ánh, ở ấp Vàm Rầy, xã Bình Sơn, một nạn nhân của xâm nhập mặn cho biết: Gia đình ông và nhiều hộ sống quanh khu vực này không thể canh tác trên chính mảnh đất của mình, vì không có cây gì sống sót bởi chất mặn đắng của nước biển. Vườn cây ăn trái hơn một ha là nguồn sống chính của gia đình bị thiệt hại hết. Nhà có đất nhưng không thể canh tác, gia đình ông Ánh phải đi làm thuê kiếm sống. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, do địa hình của tỉnh nằm sát Biển Tây, nên những năm gần đây cả ba vùng sinh thái đều xuất hiện tình trạng xâm nhập mặn, nhưng nặng nhất là vùng U Minh Thượng, nằm ven sông Cái Bé, Cái Lớn và vùng tứ giác Long Xuyên, cụ thể là hai huyện Hòn Ðất và Kiên Lương. Năm 1998, tại khu vực tứ giác Long Xuyên nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng từ 17 đến 20 km, đến năm 2009 cũng tại đây nước mặn xâm nhập nhiều nơi lên đến 40 km và ít nhất cũng 30 km. Năm 2010, nước mặn đã làm mất trắng hơn 10 nghìn ha lúa lấp vụ của mô hình tôm - lúa ở vùng U Minh Thượng. Hằng năm, ngân sách của tỉnh phải chi hơn 20 tỷ đồng để hỗ trợ người dân khôi phục sản xuất do mặn xâm nhập và khô hạn. Không chỉ vậy, nhiều nơi người dân còn khổ sở khi sống giữa vùng sông nước, kênh rạch chằng chịt mà không có nước ngọt sử dụng.

Ngoài ra, ở tỉnh Kiên Giang còn xảy ra tình trạng xói lở nhiều nơi. Tại khu vực phía tây đảo Phú Quốc, xói lở làm đổ cột đèn biển, dấu vết chân đế cột đèn ngày nay nằm cách bờ đến 15 m. Tại khu vực cảng Hàm Ninh, Mũi Ðỏ (Phú Quốc) cũng đang xảy ra xói lở mạnh. Tại công trình đê kè công viên thị xã Hà Tiên, xói lở đã làm một mảng kè dài 20 m, rộng 5 m đổ úp xuống đầm Ðông Hồ. Xói lở với tốc độ mạnh cũng đang xảy ra tại nhiều khu vực trên tuyến đê biển thuộc huyện Hòn Ðất...  mỗi năm tỉnh phải hứng chịu khoảng 10 đến 15 cơn dông, lốc xoáy. BÐKH làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế-xã hội, thiệt hại tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển...

Tích cực triển khai các chương trình ứng phó BÐKH

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Kiên Giang, chưa tính các huyện đảo và xã đảo, tỉnh Kiên Giang có diện tích hơn 570.373 ha, nếu xác định vùng có độ cao hơn 1 m thì toàn tỉnh chỉ có 32.699 ha và cao hơn 1,5 m chỉ có 4.462 ha. Nếu theo kịch bản BÐKH, nước biển dâng cao hơn mặt nước chuẩn 0,5 m thì tỉnh Kiên Giang có hơn 50% diện tích đồng bằng bị chìm trong nước; nếu nước biển dâng cao hơn 1 m, thì phần đất liền còn lại là 37.161 ha chiếm 6,5% diện tích đất liền nhô khỏi mặt nước. Ðể chủ động đối phó BÐKH, năm 2010, tỉnh Kiên Giang đã xây dựng và triển khai thực hiện chương trình hành động ứng phó BÐKH và nước biển dâng với nhiều chương trình, dự án đã và đang thực hiện, trong đó bảo vệ và khôi phục hệ thống rừng phòng hộ ven biển, cùng với việc củng cố, nâng cấp đê biển là việc làm cấp bách và cần thiết. Thực tế cho thấy, hệ thống rừng phòng hộ ở Kiên Giang gắn liền với tuyến đê biển có chiều dài hơn 200 km từ Mũi Nai (Hà Tiên) đến Tiểu Dừa (An Minh) được xem là tấm lá chắn bảo vệ cư dân. Tuy nhiên, những năm qua nhiều đoạn rừng phòng hộ bị thưa dần hoặc mất trắng, tổng chiều dài tấm lá chắn bị hở lên đến 79 km. Từ năm 2005 đến nay bằng nguồn vốn ngân sách, tỉnh Kiên Giang đã vận động nhân dân trồng mới được 430 ha rừng; giao khoán rừng cho hộ dân triển khai mô hình 7/3 (7 rừng, 3 nuôi trồng thủy sản), để các hộ tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng. Và nhằm từng bước xây dựng mô hình trồng rừng ven biển đạt hiệu quả, năm 2011, dự án GIZ Kiên Giang đã thiết kế ba kiểu hàng rào ngăn sóng xây dựng tại huyện Hòn Ðất và đang tiếp tục triển khai tại các huyện An Biên, An Minh. Mô hình này được đánh giá sẽ mang lại hiệu quả tích cực, không chỉ bảo vệ được tuyến đê biển, mà còn từng bước ổn định được bãi bồi, giúp cây trồng bám rễ sâu chắc vào đất.

Theo UBND tỉnh Kiên Giang, tuyến đê biển được đầu tư từ giai đoạn 2000-2005. Hiện trạng cao trình đê từ +2 m đến +2,5 m, chiều rộng mặt đê từ 4 đến 6 m, địa hình chủ yếu là bãi bồi ven biển nên nền đê yếu và bị chia cắt bởi 60 cửa sông, kênh thông ra Biển Tây. Tất cả những cửa sông, kênh này đều phải đầu tư xây dựng cống nhằm thoát lũ, úng, kiểm soát mặn, giữ ngọt phục vụ sản xuất, dân sinh. Tuy nhiên, mới có 27 cống được đầu tư xây dựng. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Kiên Giang đã hoàn thành quy hoạch tuyến đê  với tổng mức đầu tư 8.406 tỷ đồng. Tuy nhiên, do nguồn vốn trong nước gặp khó khăn, nên sáu công trình cống đang xây dựng dở dang, những công trình cống còn lại chưa được thông báo vốn đầu tư. Hiện Kiên Giang đang tích cực vận động tìm nguồn tài trợ ODA, trong đó chuẩn bị tiếp nhận vốn vay từ Ngân hàng Tái thiết Ðức (KFW) chín triệu ơ-rô, cộng với nguồn vốn đối ứng 2,7 triệu ơ-rô để nâng cấp tuyến đê biển thuộc địa bàn huyện Hòn Ðất và trồng lại rừng ở những nơi xung yếu.

Ngoài ra, tỉnh Kiên Giang đã huy động được gần 207 tỷ đồng xây dựng được 73 cụm dân cư và bốn tuyến đê bao, xây dựng gần 8.000 căn nhà để bố trí những hộ dân đang sinh sống tại những vùng có nguy cơ sạt lở, lũ lụt, hộ nghèo... vào ở. Kiên Giang đang tiếp tục đầu tư thêm năm cụm tuyến dân cư, với tổng vốn hơn 190 tỷ đồng. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tỉnh đang triển khai đề án quy hoạch, bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện từng vùng có tính đến yếu tố ảnh hưởng của BÐKH và nước biển dâng; bố trí cơ cấu sản xuất thích hợp từng loại cây, con, mùa vụ, thời vụ gieo sạ, cơ cấu thích hợp để tránh các ảnh hưởng của lũ, hạn, xâm nhập mặn. Từng bước triển khai dự án nâng cấp, xây dựng mới hệ thống đê bao, bờ bao bảo vệ lúa hai vụ/năm vùng tứ giác Long Xuyên, ba vụ/năm và diện tích cây ăn trái ở vùng tây sông Hậu và triển khai quy hoạch bố trí lại dân cư vùng ven biển, ven hải đảo...

Trung tuần tháng 7 vừa qua, tại buổi làm việc với Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Ðức Phát, UBND tỉnh Kiên Giang kiến nghị Chính phủ, Bộ trưởng và các bộ, ngành Trung ương tăng thêm nguồn thủy lợi phí cho tỉnh ở mức từ 250 đến 300 tỷ đồng/năm; tăng kế hoạch vốn đầu tư để bảo đảm chương trình củng cố và nâng cấp đê biển đúng kế hoạch, đáp ứng công tác phòng, chống lụt bão, ứng phó BÐKH và nước biển dâng. Hỗ trợ tỉnh xây dựng các mô hình trồng rừng, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, hỗ trợ việc nghiên cứu, thử nghiệm các loại giống cây trồng, vật nuôi thích hợp với điều kiện sản xuất của địa phương.

Có thể bạn quan tâm