Khói rơm còn vương lại

Mùa gặt rơi vào đúng mùa nắng nóng. Lúa vàng, rơm vàng trộn lẫn mầu nắng vàng nhức mắt, khiến cho ánh nắng chói chang hơn, gay gắt hơn. Mệt mỏi và rã rời hơn. Thửa ruộng cấy thuê đã gặt xong lúc cuối chiều. Lúa cũng đã thuê máy tuốt, chất đầy bao.

Chỉ còn trơ lại những gốc rạ, ngổn ngang những đống rơm nhấp nhô trên bờ ruộng. Bờ bây giờ là con chạch nhỏ phân cách hai thửa ruộng sát nhau. Ngày trước, nhặt nhạnh từng cọng rơm, cuống rạ đánh đống góc sân thành cây rơm. Rút ra cho trâu ăn dần ngày đông, tháng giá, hay thổi cơm, nấu nước, thậm chí rải ổ rơm cho ấm lưng. Nay thì, rơm rạ không biết làm gì, vất đi đâu cho nên hai vợ chồng ông chỉ còn mỗi cách châm lửa đốt ngay giữa ruộng. Gặp cơn gió đồng, lửa bốc ngùn ngụt, khói rơm rạ phủ kín, xóa nhòa hai thân già trơ trọi giữa đồng không bóng người, hoang vắng...

"Trẻ cậy cha, già cậy con", người đời thường bảo vậy. Nhưng ở cái tuổi gần đất, xa trời, ông bà lại phải dựa vào nhau mà sống. Như lúc này, bà gần như ngồi dựa vào lưng ông. Ðôi mắt ông tự dưng ứa lệ, cay xè chẳng phải vì khói rơm xộc vào. Từ thuở bé, ông đã quá quen với khói rơm trong bếp lửa. Khi theo cha ra đồng đốt cỏ khô, chân rạ mà không hề giàn giụa nước mắt. Cớ sao lúc này ông không thể cầm lòng khi mà trong người mồ hôi và nước mắt tưởng chừng cạn kiệt bởi đã thấm hết xuống những mảnh ruộng còn sót lại sau "đợt sóng" đô thị hóa. Ðất của cha ông để lại, giờ đã thành đất của người ta san lấp làm dự án. Mỗi lần đi ngang qua, cảm giác cứ xót xa, ngậm ngùi. Cỏ mọc bít những lối mòn ngày xưa đã nhẵn dấu chân y như đất bỏ hoang. Dân làng có mấy ai đoái hoài, nuối tiếc cái mảnh đất "bờ xôi, ruộng mật". Người ta thấp thỏm hỏi han nhau, thấp thỏm nói cười, ngó nghiêng những ô kẻ rắm rối trên tấm biển quy hoạch cứ mờ dần bởi dãi dầu mưa nắng. Họ bảo rằng quy hoạch, dự án "đắp chiếu". Chẳng can hệ gì tới mình, cốt sao đã nắm một cục tiền đền bù rồi. Có người sắm xe máy chạy xe ôm cũng có đồng ra đồng vào. Có người góp vốn thuê cửa hàng ngoài thị trấn mở quán cà-phê, giải khát. Nhà có con gái thì mở ka-ra-ô-kê hay tiệm làm tóc. Chỉ còn mình ông lạc lõng, cố bám lấy đất, lấy cây lúa, nhất quyết không muốn... đổi đời. Hàng xóm có người nói ông gàn dở. Sướng không biết đường sướng, cứ thích đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn, phân tro, rơm rạ, thuê lại đất cấy cày, trồng hai vụ lúa với một vụ đông su hào, bắp cải, cà chua. Thực tình, tiền bán thóc, rau cỏ có được bao nhiêu đâu. Ráo mồ hôi là ráo tiền. Nhưng khổ nỗi, không có đất thì sống bằng gì? Không nghề phụ, chẳng biết bán buôn, ông đã quen đến nước "nghiện" mùi đất, mùi bùn, nhất là mùi lúa chín. Ngay cả mùi cháy khen khét của rơm rạ quẩn quanh, khói phủ mờ như sương cũng khiến ông chạnh lòng, ngửi khói rơm trên đất người ta cho thuê, cay xè con mắt. Mảnh đất này, nghe người chủ bảo, sang năm cũng rậm rịch quy hoạch. Có lẽ vụ sau, giao xong sổ đỏ, vợ chồng ông lại phải bỏ đất, chạy ra mãi tít ngoài mé đê. Bao người được rút chân ra khỏi cánh đồng, mà cứ nhẹ tênh như chưa hề đổ mồ hôi, chưa hề rơi nước mắt. Là vì túi rủng rỉnh tiền đền bù, họ nhởn nhơ chơi, rồi đâm ra lô đề, đỏ đen, say sưa tối ngày...

Chỉ riêng ông bà là tiếc từng thửa đất ruộng bị mất đi, đau xót như người ta cầm cật nứa cứa từng khúc ruột và xát muối. Mảnh ruộng này, và cả cánh đồng này, nay mai sẽ mọc lên nhà ở, nhà máy hay siêu thị. Còn ai làm ruộng, trồng lúa như ông nữa? Ðời sống sẽ khấm khá lên, dân làng đang chuyển sang dùng bếp gas, bếp than. Trâu bò cũng vắng bóng trên đồng. Rơm rạ tích trữ làm gì cho chật đất. Gió chợt đổi chiều, khói xộc vào mắt ông ngập ngụa, rồi bay về phía thành phố đã lên đèn. Nghe nói, người thành thị rất sợ mùi khói ngột ngạt, khó thở ấy. Vậy mà ông thì vẫn cố níu giữ lấy. Ông lo rồi đến một ngày sẽ chẳng còn rơm rạ mà đốt lên và khói rơm chỉ còn vương lại trong nỗi nhớ cồn cào ruộng đồng, nhớ mùa gặt thơm thảo mùi lúa chín, rạo rực...

Có thể bạn quan tâm