Những năm trước, nhiều người trong giới khoa học cho rằng, Hà Nội không có truyền thống về nghệ thuật múa. Mọi việc bắt đầu từ những chuyến điền dã của những thành viên Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội vào năm 2000. Trong những chuyến điền dã đến các lễ hội trên địa bàn Hà Nội, những nhà nghiên cứu, nghệ sĩ múa nhận thấy, Hà Nội có cả một kho tàng nghệ thuật múa mà chưa nhiều người biết đến. Hầu hết các điệu múa cổ đều gắn với các hoạt động lễ hội, hoạt động tâm linh. Chính vì một số địa phương cho đây là phần phụ của lễ hội mà có những điệu múa bị mất đi, hoặc bị sai lạc so với nguyên gốc. Dưới sự chủ trì của Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Ngọc Canh, các thành viên Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội đã đến nhiều địa phương, nhất là ở các làng quê khu vực ngoại thành để khảo sát hiện trạng, nghiên cứu và tìm biện pháp phục hồi những điệu múa cổ đã bị biến tướng hoặc thất truyền. Tiến sĩ Đặng Chí Thông cho biết: "Những điệu múa cổ làm ta hiểu rõ hơn đời sống văn hóa cộng đồng khu vực thành Thăng Long xưa. Các điệu múa thường có ý nghĩa lên án ác, hướng thiện, đồng thời là bài học răn dạy con cháu biết ơn, tôn kính những người có công khai phá kinh thành Thăng Long, góp phần cố kết cộng đồng".
Sau 15 năm nghiên cứu, tìm tòi, các chuyên gia đã hoàn thành một bộ sưu tập gồm 59 hình thức múa. Đây là kết quả của một quá trình hết sức công phu. Từ những màn biểu diễn thực tế, kết hợp với những lời kể của nghệ nhân tại các địa phương, các chuyên gia đã văn bản hóa những điệu múa này một cách hệ thống, từ khảo tả toàn diện hình thức, với những chỉ dẫn cụ thể về từng động tác, mô tả xác thực về chủ thể sáng tạo, môi trường diễn xướng và mục đích diễn xướng... Đây không đơn thuần là những công trình nghiên cứu, mà còn là tư liệu để giúp người dân các địa phương phục dựng, bảo tồn lâu dài các điệu múa truyền thống. Có 13 hình thức múa được ghi hình mô tả một cách đầy đủ, kỹ càng mọi góc độ. Đây cũng là lần đầu thành phố tổ chức ghi hình một cách có hệ thống với số lượng lớn các điệu múa cổ để có thể bảo tồn một cách tốt nhất. Bộ sưu tập gồm những điệu múa nổi tiếng như: Các hình thức múa trong hội làng Phù Đổng (huyện Gia Lâm); múa Con đĩ đánh bồng, Chạy cờ (hội làng Triều Khúc, huyện Thanh Trì); múa Giảo long (hội Lệ Mật, quận Long Biên); múa Lục cúng, Giải oan cắt kết (chùa Đào Xuyên, quận Long Biên)...
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều điệu múa cổ chưa được nghiên cứu đầy đủ. Theo nghệ sĩ Hùng Thoan, hiện nay, vẫn còn hàng chục điệu múa đang chờ để được ghi chép, nghiên cứu như múa Phượng trong hội chùa Thánh Chúa (quận Cầu Giấy), múa Kéo rắn hội làng Xuân Nộn (huyện Đông Anh), múa Cởi yếm mo (hội làng Đường Yên, huyện Đông Anh)... Trong khi nhiều hình thức múa chưa được nghiên cứu, thì những nghệ nhân dân gian tuổi ngày càng cao. Có những địa phương, nghệ nhân qua đời mang theo nhiều kiến thức về nghệ thuật múa cổ ở quê nhà. Chẳng hạn ở thôn Phú Nhiêu (xã Quang Trung, huyện Phú Xuyên) có điệu múa Bài Bông rất nổi tiếng. Tương truyền điệu múa này do danh tướng Trần Quang Khải sáng tác để mừng chiến thắng quân Nguyên Mông. Nhưng những người có nhiều đóng góp trong việc gìn giữ điệu múa này là cụ Nguyễn Thị Ga và cụ Lương Đình Nghi đã qua đời. Đây là lý do nhiều nhà nghiên cứu, nghệ sĩ đề nghị thành phố cần hỗ trợ để Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội khẩn trương đến các địa phương tìm hiểu, tư liệu hóa, từ đó phối hợp với người dân địa phương khôi phục các điệu múa cổ truyền. Một khó khăn khác đặt ra là tại nhiều địa phương, bản thân chính quyền, người dân không ý thức được giá trị của múa cổ truyền. Điển hình như điệu múa Chén trong lễ hội năm làng Mọc (quận Cầu Giấy), Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội muốn khôi phục, nhưng chính quyền địa phương không nhiệt tình phối hợp. Ở phường Nhật Tân (quận Tây Hồ), các nghệ sĩ phối hợp với người dân phục dựng thành công điệu múa Trống. Nhưng điệu múa đó chỉ được trình diễn đúng một lần, từ đó đến nay, chưa được diễn xướng thêm lần nào tại hội làng. Theo những thành viên của Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội, cần có thêm các biện pháp tuyên truyền về di sản, để người dân có ý thức giữ gìn. Bản thân các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ múa chỉ có thể hỗ trợ chuyên môn, chứ không thể làm thay người dân, người dân các địa phương mới là chủ sở hữu của di sản. Chỉ như vậy, các điệu múa cổ mới tìm được chỗ đứng trong cộng đồng.