ND - Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu tại Công văn số 5048/VPCP-KTTH ngày 27-7-2009 của Văn phòng Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19-6-2009 của Quốc hội về thuế thu nhập cá nhân (TNCN); Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12-8-2009 hướng dẫn thực hiện việc miễn, giảm thuế TNCN theo Nghị quyết nêu trên, nội dung chính của thông tư như sau:
Ðối tượng và thời gian được miễn thuế TNCN
1. Ðối tượng được miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1-1-2009 đến hết ngày 31-12-2009 bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập từ đầu tư vốn; từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại.
Từ ngày 1-1-2010, cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập từ đầu tư vốn; từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
2. Ðối tượng được miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1-1-2009 đến hết ngày 30-6-2009, bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh; từ tiền lương, tiền công; từ nhận thừa kế; từ nhận quà tặng. Từ ngày 1-7-2009, cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh; từ tiền lương, tiền công; từ nhận thừa kế; từ nhận quà tặng nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
Thu nhập làm căn cứ xác định số thuế TNCN được miễn
Thu nhập làm căn cứ xác định số thuế thu nhập cá nhân được miễn cho các đối tượng theo hướng dẫn tại Ðiều 1 của Thông tư này là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được giãn sáu tháng đầu năm 2009 và thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân có nguồn gốc phát sinh trong thời gian được miễn thuế. Cụ thể đối với từng loại thu nhập như sau:
1. Ðối với thu nhập từ kinh doanh:
1.1. Ðối với cá nhân kinh doanh thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, hạch toán được doanh thu, chi phí, nộp thuế theo kê khai: thu nhập làm căn cứ xác định số thuế thu nhập cá nhân được miễn là thu nhập chịu thuế tương ứng với doanh thu, chi phí phát sinh trong sáu tháng đầu năm 2009.
Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được chính xác thu nhập chịu thuế phát sinh trong sáu tháng đầu năm 2009 thì thu nhập chịu thuế làm căn cứ xác định số thuế thu nhập cá nhân được miễn được xác định như sau:
- Ðối với cá nhân kinh doanh đủ cả 12 tháng của năm 2009: bằng 50% thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của cả năm 2009.
- Ðối với cá nhân kinh doanh không đủ 12 tháng của năm 2009:
Thu nhập chịu thuế Doanh thu kinh doanh thực tế
làm căn cứ xác định số = của tháng sáu đầu năm 2009 x Thu nhập
thuế thu nhập cá nhân Doanh thu kinh doanh cả năm 2009 chịu thuế cả năm 2009
được miễn
1.2 Ðối với cá nhân kinh doanh chỉ hạch toán được doanh thu kinh doanh, không hạch toán được chi phí, nộp thuế theo kê khai: thu nhập làm căn cứ xác định số thuế thu nhập cá nhân được miễn là mức thu nhập ấn định căn cứ doanh thu phát sinh trong sáu tháng đầu năm 2009 và tỷ lệ thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân ấn định.
1.3. Ðối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán ổn định thì số thuế được miễn là số thuế khoán phải nộp của sáu tháng đầu năm 2009 đã được cơ quan thuế thông báo.
Doanh thu, chi phí làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế của các nhóm cá nhân kinh doanh nêu tại điểm 1.1, 1.2. khoản 1. Ðiều này là doanh thu và chi phí thực tế phát sinh trong sáu tháng đầu năm 2009. Cách thức xác định doanh thu, chi phí được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30-9-2008 của Bộ Tài chính.
2. Ðối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:
Thu nhập từ tiền lương, tiền công làm căn cứ xác định số thuế thu nhập cá nhân được miễn là thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công mà đơn vị sử dụng lao động phải thanh toán cho cá nhân trong sáu tháng đầu năm 2009 không phân biệt thời điểm chi trả; cụ thể như sau:
2.1. Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập đã chi trả đủ thu nhập từ tiền lương, tiền công từ tháng 1 đến hết tháng 6-2009 (sáu tháng đầu năm 2009) cho người lao động (theo hợp đồng hoặc quyết định lương) trong khoảng thời gian được miễn thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Ðiều 1 của Thông tư này thì thu nhập làm căn cứ xác định số thuế được miễn là thu nhập thực tế đã chi trả.
2.2. Trường hợp tiền lương, tiền công của sáu tháng đầu năm 2009 theo hợp đồng lao động, cơ quan chi trả đã hạch toán chi hoặc ra quyết định lương nhưng thực tế chi trả cho người lao động ngoài khoảng thời gian miễn thuế theo hướng dẫn tại khoản 2 Ðiều 1 của Thông tư này thì vẫn được xác định là thu nhập miễn thuế. Thời hạn chi trả tiền lương, tiền công của sáu tháng đầu năm được xác định là thu nhập miễn thuế chậm nhất không quá ngày 31-12-2009.
2.3. Ðối với các khoản tiền thưởng cho cả năm 2009 (như tiền thưởng năm, tiền thưởng tháng lương thứ 13,...) thì thu nhập làm căn cứ xác định số thuế được miễn là 50% số tiền thưởng này. Thời hạn chi trả các khoản tiền thưởng cho cả năm 2009 được xác định là thu nhập miễn thuế chậm nhất không quá ngày 31-3-2010.
Thí dụ: Năm 2009, ông A được hưởng một khoản tiền thưởng năm là 10 triệu đồng; vậy ông A sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập 5 triệu đồng (bằng 50% mức thưởng cả năm).
2.4. Ðối với các khoản tiền thưởng quý: thu nhập được miễn thuế là số tiền thưởng của quý I và quý II năm 2009 theo quyết định của thủ trưởng cơ quan chi trả thu nhập. Thời hạn chi trả tiền thưởng quý I, quý II năm 2009 được xác định là thu nhập miễn thuế chậm nhất không quá ngày 31-12-2009.
Thí dụ: Tháng 8-2009, ông B được đơn vị chi trả quyết định thưởng về thành tích công tác của quý II-2009 thì ông B sẽ được miễn toàn bộ số thuế thu nhập cá nhân tương ứng với phần thu nhập từ khoản tiền thưởng quý này.
2.5. Ðối với các khoản thu nhập khác như tiền nghỉ lễ, tiền nghỉ mát, tiền trang phục và các lợi ích khác... thì thu nhập được miễn thuế là phần thu nhập thực tế chi trả trong thời gian được miễn thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Ðiều 1 của Thông tư này.
2.6. Ðối với các khoản tiền lương, tiền công của năm 2008 được chi trả trong khoảng thời gian miễn thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Ðiều 1 của Thông tư này thì được miễn thuế.
(còn nữa)