Hồn chèo cổ đi đâu

I

Từng xem lại vở chèo Quan Âm Thị Kính trên sân khấu Nhà hát Chèo Việt Nam đầu năm 2006, và rất tiếc, tôi đã phải nản lòng, vì không còn được thấy cái hồn vía ruộng đồng sâu thẳm của chèo cổ sân đình ngày xưa, như đã từng được thấy, từng được cảm động sâu xa gan ruột, trong những năm cuối của thế kỷ 20, khi xem cũng vở chèo cổ danh giá này của Nhà hát Chèo Việt Nam và Ðoàn chèo Thái Bình lưu diễn ở sân khấu TP Hồ Chí Minh.

Thật đáng ngạc nhiên.Vẫn tích ấy, trò ấy, vẫn Thị Kính oan khiên, Thị Mầu tung tẩy lên chùa, vẫn việc làng, mẹ Ðốp, xã trưởng, vẫn dàn đế, dàn đàn, vẫn tiếng trống chèo quen thuộc... mà hầu như biến mất tăm cái nồng nàn, thuần hậu, cái long lanh lấp lánh của viên ngọc chèo cổ. Dường như trong cái nhốn nháo xô bồ, tiết tấu nhanh gấp lạnh lùng cuốn phăng của cuộc sống đương đại ở đô thị, chèo cổ đã bị đánh mất hồn?

Làm sao mà chèo cổ lại ra nông nỗi này? Câu thơ Vũ Ðình Liên trong bài thơ Ông đồ xuất hiện, như một liên tưởng đau nhói: Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?

II

Thực ra, trong suốt nửa sau thế kỷ 20, chèo cổ đã được người Việt cẩn trọng nâng niu giữ giá và làm sáng giá, treo cao giá ngọc. Sân khấu chèo đã có những năm tháng thịnh vượng, với những vở diễn chèo hoàn chỉnh, được sáng tạo bởi các nghệ nhân chèo xuất sắc và các đạo diễn rành nghề.

Và cả hai động thái mỹ học: bảo tồn bản sắc chèo cổ trong công cuộc dàn dựng lại một số vở chèo cổ mẫu mực và phát huy tinh chất chèo trong các vở chèo cách tân, đã được thực hiện một cách có chiến lược và có kết quả, khiến cho sân khấu chèo đã tồn tại song hành, không đứt đoạn với công chúng hiện đại Việt Nam trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ 20.

Tuy nhiên, càng về cuối thế kỷ 20 và nhất là vào mấy năm đầu thế kỷ 21, sân khấu chèo đang bị xuống giá và mất giá trầm trọng.

Mới đây, một trong mấy đạo diễn, đồng thời cũng là nhà nghiên cứu chèo hàng đầu Việt Nam: NSND, GS Trần Bảng đã phải kêu lên rằng: Chúng ta đã lại thấy nghệ thuật chèo bị dung tục hóa, bị tha hóa đi như thế nào trong những năm bị suy thoái. Ở nhiều trò diễn, ngôn từ rác rưởi, động tác rác rưởi, âm nhạc lại càng rác rưởi. Không còn là nghệ thuật chèo nữa. Chèo đã mất đi chất thơ bản nguyên của nó.

Ông đã không nói quá và nhiều người đã đồng tình với ông trong nhận định nghiệt ngã và đích đáng này. Và ông đã có luận chứng hẳn hoi để "bảo lãnh" cho nhận định của mình, khi cho rằng sân khấu chèo trước hết là thơ, với bản thể của nó là tính ước lệ cao độ, không hề muốn mô tả cuộc sống trong hình thái "giống như thực".

Vì vậy, "ba ngôi" chủ thể sáng tạo của nghệ thuật chèo, gồm: tác giả, đạo diễn, diễn viên, theo GS Trần Bảng, buộc phải có "tư duy thơ" mới có thể khái quát, tinh chọn từ cuộc sống những nét thiết yếu mang ý thơ. Và ý thơ ấy lại được thể hiện thông qua ngôn ngữ nghệ thuật đa dạng của chèo, thông qua những thủ đoạn nghệ thuật giàu tính biểu hiện như ước lệ ẩn dụ tượng trưng...

Cho nên, ông khẳng định, văn học chèo là văn học thơ,... Ðộng tác trong diễn xuất chèo là động tác thơ. Và ông hoàn toàn tinh tế khi nhận thức: Lớp múa "Mời trà" của Xúy Vân mừng Kim Nham trở về, các điệu múa không lời trong lớp trò "Xúy Vân giả dại", lớp múa ra trò của Thị Mầu... đều mang vẻ đẹp cách điệu của động tác múa, đã thăng hoa thành những "bài thơ động tác" thật tuyệt vời, trên cái nền âm nhạc chèo truyền thống, vốn nhiều hệ thống làn điệu, với hơn hai trăm ca khúc, cùng những hình thức nói lối, ngâm, vịnh, vỉa... mang sắc thái âm nhạc dân tộc đặc thù của người nông dân Việt vùng châu thổ sông Hồng.

Nhưng trên hết, vẫn là vai trò "tổng chỉ huy" của đạo diễn. Từng đạo diễn vở chèo Quan Âm Thị Kính, thành công cả ở trong nước và nước ngoài, GS Trần Bảng hiểu rằng: Ðạo diễn chèo phải là người am hiểu các luật thơ trên, là người đứng ra chỉ đạo, biết kết hợp hài hòa chất thơ của ngôn từ, của động tác, của âm nhạc để cuối cùng tạo nên một trò diễn thơ.

Tuy nhiên, nếu những người sáng tạo chèo chỉ có một tư duy thơ thì không thể làm đủ đầy cái hồn phong phú sắc mầu thẩm mỹ vốn có của nghệ thuật chèo. Hầu hết các tích chèo cổ đều mang ý nghĩa là những bài học về đạo đức, song đã được lãng mạn hóa tới mức siêu phàm, huyền bí.

Chính cái nội dung siêu phàm mang nhiều yếu tố tâm linh đòi hỏi một tư duy nghệ thuật tương ứng: tư duy huyền thoại. Và, theo cách riêng, tư duy huyền thoại trong chèo là sự kết hợp hài hòa giữa siêu phàm và phàm tục, giữa cao cả thần tiên xen lẫn dung tục đời thường, khiến cho thế giới của chèo vừa hiện thực lại vừa huyền ảo.

Song, không chỉ dừng việc miêu tả cuộc sống chỉ với hai tư duy này, nghệ thuật chèo Việt Nam còn hướng sự miêu tả vào cái "thần thái", cái cốt lõi bên trong của con người và sự vật, để "mã hóa" thành nguyên tắc mỹ học riêng: tả ý, tả thần. Tư duy ước lệ trong nghệ thuật chèo đã sinh ra nguyên tắc mỹ học này và nguyên tắc này, đã thành luật lệ, phép tắc cơ bản chi phối toàn thể kịch bản cho đến diễn xuất của trò diễn.

III

Như thế, các chủ thể sáng tạo sân khấu chèo, nhất là đạo diễn chèo, trong nhiều thập kỷ qua, đã biết giữ giá, và làm sáng giá vẻ đẹp cổ điển của nghệ thuật chèo bằng một phương pháp tư duy nghệ thuật chính xác và đích đáng. Sự thiếu vắng các hoạt động đặc thù của tư duy nghệ thuật chèo cổ trong sáng tạo vở diễn chèo hôm nay đã khiến cho sân khấu chèo mai một, và thậm chí đã khiến những người lâu năm tâm huyết với số phận sân khấu chèo như đạo diễn Trần Bảng phải âu lo, thậm chí hờn giận (nếu không, chắc ông đã không nặng lời gọi những thứ phi nghệ thuật chèo là "rác rưởi", và không ngại chế giễu sâu cay thứ phi-văn-học-chèo, chính là loại: Ngôn từ rác rưởi cố vần vò thành thơ không thể để ngâm lên, hát lên. Mà cố gượng ép đưa vào thì chỉ làm cho giai điệu bị ô nhiễm đi mà thôi).

Ðây cũng là một sự thật đắng, thường gặp ở những trích đoạn, những vở chèo cổ vô hồn đang hiện diện khá nhiều trên sân khấu chèo hôm nay. Muốn chữa trị tận gốc tình trạng này, có lẽ phải bắt đầu lại bằng một tư duy chèo, theo quan niệm của Trần Bảng.

Theo ông, tư duy chèo kiểu truyền thống này không bị tụt hậu mà hoàn toàn phù hợp với thời đại. Có điều, tư duy này phải làm sao cho phong phú và bén nhạy, với nhận thức đầy đủ về bản chất ngôn ngữ nghệ thuật chèo, về nguyên tắc mỹ học đặc thù của riêng sân khấu chèo và cuối cùng, phải là những chủ thể sáng tạo mang tính chuyên nghiệp thật cao, bởi chèo là một nghệ thuật cao cường của sân khấu cổ truyền Việt Nam, đã có một kinh lịch văn hóa hàng nghìn năm, không thể để chèo rơi vào quên lãng, thất truyền và mai một...

Có thể bạn quan tâm