Canada-Việt Nam: Hợp tác tăng cường năng lực quản lý an toàn thực phẩm
Hơn 15 năm qua, Canada đã phối hợp chặt chẽ với Việt Nam nhằm tăng cường năng lực quản lý an toàn thực phẩm của quốc gia. Đáng chú ý, kể từ năm 2020, Dự án An toàn thực phẩm vì sự phát triển (SAFEGRO) đã có những đóng góp quan trọng thông qua một loạt báo cáo phân tích chuyên sâu về pháp luật an toàn thực phẩm, đồng thời cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhằm nâng cao thực hành an toàn thực phẩm, tăng cường hiệu lực giám sát quản lý và năng lực chuyên môn của các cơ quan nhà nước cũng như các bên liên quan.
Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, bà Tô Liên Thu, Chuyên gia chính sách và thể chế, Dự án An toàn thực phẩm vì sự phát triển (SAFEGRO) nhận định, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu về quản lý an toàn thực phẩm đã đạt đến mức cao. Thách thức lớn nhất hiện nay chính là chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hệ thống và động lực hiện tại nhằm đạt được các kết quả cụ thể, bền vững.
“Trong bối cảnh đó, Luật An toàn thực phẩm sửa đổi được kỳ vọng sẽ trở thành động lực then chốt cho quá trình hiện đại hóa toàn diện hệ thống quản lý an toàn thực phẩm của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy phát triển kinh tế và hỗ trợ hội nhập thương mại quốc tế”, bà Thu nói.
Năm trụ cột chính sách lớn, nền tảng của Luật An toàn thực phẩm sửa đổi
Năm nhóm chính sách được Bộ Y tế đề xuất bao gồm: Tăng cường quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao; phân cấp quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm giữa trung ương và địa phương; kiểm soát thực phẩm chế biến, bao gói sẵn dựa trên nguy cơ; kiểm soát thực phẩm nhập khẩu dựa trên nguy cơ và lịch sử tuân thủ; tăng cường kiểm soát các chất sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm có nguy cơ bị lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích.
Đồng tình với đề xuất của Bộ Y tế, Dự án An toàn thực phẩm vì sự phát triển (SAFEGRO) đề xuất 10 giải pháp trọng tâm, hình thành từ hơn 5 năm kinh nghiệm triển khai dự án tại Việt Nam. Theo đó, SAFEGRO đề xuất ưu tiên hàng đầu là thành lập một Cơ quan An toàn thực phẩm thống nhất, tự chủ và độc lập, từ trung ương đến địa phương. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm, sức khỏe động vật và sức khỏe thực vật, đồng thời vận hành hệ thống thanh tra, giám sát dựa trên nguy cơ đối với cả thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu.
Theo các chuyên gia, quản lý an toàn thực phẩm dựa trên nguy cơ được xem là cần thiết. Nó không còn mang tính lý thuyết, mà đã được chứng minh tính khả thi thông qua các hoạt động xuất khẩu, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ứng phó của Việt Nam trong đại dịch Covid-19.
Thách thức lớn nhất hiện nay là thể chế hóa đầy đủ tư duy quản lý dựa trên nguy cơ trong Luật An toàn thực phẩm sửa đổi và triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Thêm nữa, bổ sung yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải xây dựng và nộp Kế hoạch kiểm soát phòng ngừa như một điều kiện tiên quyết để được cấp phép và đăng ký.
Đây cũng là một thông lệ phổ biến trên thế giới khi nó là yêu cầu bắt buộc theo Đạo luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm của Mỹ (FSMA) và Đạo luật Thực phẩm An toàn cho người dân Canada.
Đồng bộ các giải pháp bảo đảm an toàn thực phẩm vì sức khỏe cộng đồng
Song song, tái cấu trúc hệ thống phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm nhằm khắc phục tình trạng phân tán, thiếu đồng bộ và nguy cơ gian lận trong thử nghiệm thực phẩm. Việc tiêu chuẩn hóa, tăng cường giám sát và tổ chức lại hệ thống phòng kiểm nghiệm được coi là điều kiện thiết yếu để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của kết quả thử nghiệm.
Đồng thời, liên quan tới hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, cần dựa trên phân tích nguy cơ, tập trung vào hồ sơ nguy cơ của doanh nghiệp, nhằm tránh tình trạng kiểm tra chồng chéo tại các cơ sở tuân thủ pháp luật tốt trong khi bỏ sót các “điểm nóng” có nguy cơ cao.
Liên quan tới đề xuất xây dựng Hệ thống thông tin An toàn thực phẩm quốc gia, đây được coi là giải pháp then chốt thúc đẩy chuyển đổi số và liên thông dữ liệu. Theo hướng này, các hệ thống truy xuất nguồn gốc tự nguyện, manh mún hiện nay cần được thay thế bằng quy định pháp lý bắt buộc, yêu cầu toàn bộ các chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm lưu trữ dữ liệu số và kết nối với trung tâm dữ liệu quốc gia và xem đây là một tài sản quốc gia.
Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý tới việc hài hòa Luật An toàn thực phẩm với các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế; thiết kế các chính sách hỗ trợ phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ; lồng ghép các yếu tố công bằng xã hội và giới trong chính sách an toàn thực phẩm và xây dựng các gói trợ cấp, hỗ trợ, tín dụng và chương trình khuyến khích nhằm thúc đẩy việc áp dụng chứng nhận an toàn thực phẩm, kế hoạch kiểm soát phòng ngừa và truy xuất nguồn gốc trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm.