Trước đây, việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử hay các ứng dụng số còn là trở ngại đối với nhiều người dân, thì đến nay những kỹ năng này dần thành quen thuộc trong cuộc sống.
Chuyển đổi số đi vào thực chất
Cán Tỷ là xã vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, phần lớn người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, việc tiếp cận công nghệ thông tin của một bộ phận người dân còn gặp trở ngại. Vì vậy, việc đưa kỹ năng số đến từng thôn, từng hộ dân được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng để chuyển đổi số đi vào thực chất.
Thời gian qua, Ủy ban nhân dân xã Cán Tỷ đã đẩy mạnh tuyên truyền thông qua hệ thống truyền thanh, các cuộc họp thôn, sinh hoạt cộng đồng và mạng xã hội. Sau một năm triển khai, đã có 245 lượt cán bộ, công chức, viên chức của xã tham gia học tập trên nền tảng “Bình dân học vụ số”; 100% số cán bộ, công chức, viên chức được trang bị kỹ năng số cơ bản. Điều này đã từng bước nâng cao nhận thức, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của mọi người trong thực hiện nhiệm vụ.
Đồng chí Lê Minh Lập, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Cán Tỷ cho biết, xã hiện có 10 Tổ công nghệ số cộng đồng với 113 thành viên. Cùng với mô hình “Thanh niên số”, lực lượng đoàn viên, thanh niên đã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, VNeID, thanh toán không dùng tiền mặt và các nền tảng số.
Tuy nhiên, do kỹ năng công nghệ không đồng đều, nhất là người cao tuổi, cho nên một bộ phận người dân còn hạn chế trong việc sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng số. Thời gian tới, xã sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh, mạng xã hội và hướng dẫn trực tiếp theo phương châm “cầm tay chỉ việc”, tập trung vào đồng bào dân tộc thiểu số và người cao tuổi, giúp người dân từng bước sử dụng công nghệ một cách chủ động.
Không chỉ ở Cán Tỷ, phong trào “Bình dân học vụ số” đang được triển khai rộng khắp trên địa bàn tỉnh. Đến nay, 124/124 xã, phường đã đưa nội dung thực hiện phong trào vào nghị quyết, chương trình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, gắn với nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nhân rộng những mô hình hay
Tuyên Quang hiện có 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 20.250 thành viên, đóng vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, hướng dẫn người dân tiếp cận và sử dụng công nghệ số. Các cấp bộ đoàn duy trì nhiều đội hình thanh niên tình nguyện hỗ trợ người dân cài đặt, sử dụng các ứng dụng số, chữ ký số, tài khoản định danh điện tử và dịch vụ công trực tuyến.
Nhiều mô hình sáng tạo như “Ngày thứ bảy số”, “Ngày thứ năm số”, “Mỗi thôn một điểm hỗ trợ kỹ năng số”, “Chợ phiên số-Nông thôn số”, “Mỗi học sinh-một người thân được hỗ trợ kỹ năng số”, “Chi hội số”, “Gia đình số”... đã góp phần đưa công nghệ số đến gần hơn với người dân.
Tại hội nghị sơ kết một năm thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số”, đồng chí Đỗ Hùng Đức, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đánh giá, phong trào đã tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của các cấp, ngành và người dân đối với chuyển đổi số.
Nhiều người dân đã sử dụng thành thạo điện thoại thông minh để tiếp cận thông tin, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và các nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh. Nhiều địa phương có cách làm sáng tạo, phù hợp thực tế.
Tuy nhiên, kết quả thực hiện giữa các địa phương chưa đồng đều; kỹ năng số của một bộ phận người dân còn hạn chế, tỷ lệ sử dụng dịch vụ số ở một số nơi chưa cao; hoạt động của Tổ công nghệ số cộng đồng còn khó khăn.
Thời gian tới, đồng chí Đỗ Hùng Đức đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương xác định “Bình dân học vụ số” là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với mục tiêu chuyển đổi số và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo kỹ năng số; phát huy vai trò Tổ công nghệ số cộng đồng, nhân rộng mô hình hiệu quả và khai thác nền tảng “Bình dân học vụ số” để phổ cập kỹ năng số cho người dân.
Từ những thao tác trên chiếc điện thoại thông minh, kỹ năng số đang từng bước trở thành một phần của đời sống. Khi công nghệ không còn là điều xa lạ mà trở thành công cụ phục vụ công việc, sản xuất và đời sống, chuyển đổi số sẽ có thêm nền tảng vững chắc để đi vào chiều sâu, trở thành động lực cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.