Nửa cuối năm 2006, khán giả Hà Nội lần lượt được thưởng thức ba vở kịch qua tay ba đạo diễn có hạng khu vực phía Bắc: Trạng Quỳnh (đạo diễn Nghệ sĩ Ưu tú Xuân Huyền - Nhà hát Kịch Hà Nội), Nhà búp bê (đạo diễn Nghệ sĩ Ưu tú Lê Hùng - Nhà hát Tuổi Trẻ) và Ðứa con bị đánh cắp (đạo diễn Nghệ sĩ Nhân dân Doãn Hoàng Giang - Nhà hát Kịch Hà Nội). Xin phép không nhắc tới 100 phút cuối cùng của Hàn Mạc Tử vì vở diễn này đã được gắn mác "thử nghiệm" .
Kịch bản
Cả ba vở, kịch bản đều không thiếu chất văn học. Trạng Quỳnh dựa theo tích truyện dân gian ai cũng biết. Nhà búp bê là của kịch tác gia nổi tiếng Henrick Ibsel. Ðứa con bị đánh cắp là của nhà văn Nguyễn Quang Lập, người vốn nổi tiếng với những kịch bản đầy cá tính và thân phận.
Phải nói, dựng Nhà búp bê là khó nhất. Khó không phải vì tính kinh điển của kịch bản mà vì sự hoàn chỉnh đến ngặt nghèo trong tính toán "thời gian thực" của Ibsel. Hấp dẫn và hoàn chỉnh đồng nghĩa với cắt gọt và đảo xới là rất khó. Nhưng Lê Hùng đã làm được. Nhà búp bê không hề bị cảm giác hỗn độn và cuống quít. Kịch bản được tỉa ở mức độ chỉ xem kỹ kịch bản gốc mới có thể nhận ra.
Khác Nhà búp bê, Trạng Quỳnh chỉ bị ràng buộc bởi những hình dung qua nhiều thế hệ bởi Trạng Quỳnh vẫn là một ông Trạng của dân gian. Xuân Huyền đã tạo dựng một vóc dáng mơ hồ và nhập nhòa cho Trạng Quỳnh. Chỉ mấy câu hát "Lên chùa bẻ một cành sen, ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng giăng" là đã quá đủ cho ông Trạng dân gian có nơi đi và chốn về mà không cần hộ khẩu...
Ðứa con bị đánh cắp là kịch bản của thời hiện đại. Mà một kịch bản hiện đại khi đã "phó thác" cho đạo diễn thì phải chịu phận "rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn"... Thế mà bàn tay đạo diễn lẩn khá khéo. Thậm chí kịch bản có mạch chuyện rất éo le và miên man, có lúc lại bị cắt vụn bởi vài cú chuyển cảnh quá gấp. Ðiều quan trọng hơn, không khí và những câu thoại không có "cảm giác Nguyễn Quang Lập" (trong khi những vở của Nguyễn Quang Lập vốn thường mang tính luận đề và lời thoại đặc chất cá tính tác giả).
Cái hài và cái bi
Nếu xét về hài, Trạng Quỳnh là vở đậm nhất. Ðạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Xuân Huyền đã thực sự mượn các tích truyện dân gian và ngôn ngữ bình dân để chuyển thành không gian và ngôn ngữ sân khấu. Ðứa con bị đánh cắp ít ngôn ngữ bình dân hơn, ít hài hơn trong mức độ cho phép, và "không có gì đáng nói". Nhà búp bê ít hài nhất, chẳng phải tại kịch bản, mà hẳn hoi là đạo diễn không chủ định khai thác (hoặc giả, có khai thác nhưng không ra). Toàn vở mang cảm giác giống như một mệnh phụ luôn ngây đuỗn ra vì những dây nhợ, lồng, khuôn mà cô ta mang lên người. Ðây là một điều hiếm thấy ở đạo diễn Nghệ sĩ Ưu tú Lê Hùng.
Về bi, vở có cơ sở để bi nhưng lại không bi được là Ðứa con bị đánh cắp. Nhớ lại những giọt lệ mà Doãn Hoàng Giang đã lấy được từ khán giả với Nàng Sita ngày trước so với vở không có khoảng lặng nào như Ðứa con bị đánh cắp, có thể ngậm ngùi mà nói rằng: Doãn Hoàng Giang đã già thật rồi. Cái kết bi (và đau đáu nhất) trong kịch bản, đương nhiên là của Nhà búp bê. Tiếc rằng điều đó cũng không chuyển tải hết trong một đoạn kết hơi hẫng. Với loại tư duy "đổi mới một cách rất cổ hủ", người làm vở đã bỏ đi tiếng sập cửa của nàng Nora chừng như với một lý do "quá nhiều người đã làm tiếng sập cửa, thì mình không làm nữa". Chao ôi, khi bước ra đêm tối mênh mông đến vô tận, chính Nora cũng hiểu tương lai nào đang chờ đón nàng. Nhưng nếu không có muôn ngàn tiếng sập cửa thực sự của những nàng No-ra như thế, liệu người ta có quan tâm đến những người phụ nữ hay không? Và phải chăng cái xã hội hiện đại mà ta đang sống này đã hết bất công đối với phụ nữ, để đến nỗi chúng ta phải mượn một tiếng sập cửa ảo thay cho một tiếng sập thật - một tiếng sập phũ phàng vào mỗi trái tim người để lay động những phần già cỗi và trơ lì ?... Thật may (và cũng thật lạ), cái rưng rưng nhất, ta lại có thể tìm thấy ở vở nhiều hài nhất...
Những vai chính cũng đáng nói. Với Nhà búp bê, Lê Khanh vừa phải gồng mình với Nora, vừa khoác thêm vai trò trợ lý đạo diễn, quăng quật để khỏa lấp khoảng trống và sự chênh lệch giữa các vai diễn (như đã từng với Lôi Vũ và Aesop). Sự cố gắng này khiến khán giả cũng mệt và kiệt sức vì nó quá lộ chứ không ẩn đi (như trong Lôi Vũ và Aesop). Còn trong Trạng Quỳnh và Ðứa con bị đánh cắp, cả hai đạo diễn đều dựa trên diễn xuất chính của Trung Hiếu, một diễn viên đang thật sự chín cả trong địa hạt sân khấu lẫn phim truyền hình. Trạng Quỳnh khai thác được khả năng của Trung Hiếu hơn nhiều so với Ðứa con bị đánh cắp và đó là vấn đề của người làm vở chứ không thể đổ thừa cho kịch bản!...
Thiết kế sân khấu, đạo cụ, âm nhạc... hay là chuyện "thật" và "ảo"
Nói thành thật, thiết kế sân khấu cho Trạng Quỳnh là dễ nhất. Những cột rồng sập báu là biểu trưng cho Phủ Chúa, những mái tranh vách liếp cho cảnh nông thôn. Nghệ sĩ Ưu tú Xuân Huyền là người luôn trăn trở và dằn vặt, đến mức khư khư ôm lấy ý tưởng "mượn chuyện xưa nói chuyện nay". Bài trí tiền cảnh là cổ còn hậu cảnh là những dòng tên các mẩu chuyện Trạng Quỳnh được sắp xếp theo kiểu đồ hoạ như trong những ma-két quảng cáo Tây phương. Ðiều quan trọng là, giữa bài trí tiền cảnh và phông hậu không có được sự hòa hợp để thể hiện quan niệm "mượn chuyện xưa nói chuyện nay". Ngay cả ánh sáng - một "giải pháp hòa hợp" cho "xưa" và "nay" cũng không hoàn thành "sứ mệnh" đó. Ðiều đó thật tiếc.
Nếu đọc kỹ kịch bản Nhà búp bê (trên cả bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh), ta có thể thấy thấm đẫm một không khí Giáng sinh. Với Nhà búp bê, Ibsel hết sức dụng công với thủ pháp thời gian-thực. Trong đêm Giáng sinh, khi mỗi ngôi nhà đều bước vào giờ khắc ấm cúng nhất thì bóng tối bên ngoài cũng dày đặc và tuyệt vọng nhất. Ibsel đã "đẩy" Nora ra bóng đêm vào một thời khắc như thế! Nhưng toàn bộ vở Nhà búp bê hầu như không có tí chút không khí Giáng sinh nào (cả thiết kế sân khấu lẫn âm nhạc) ngoài một tiếng chuông Nô-en vào lúc không còn cần thiết nữa. "Búp bê" - một khái niệm ảo, là chính những con người sống trong ngôi nhà của Helmer, là Nora, là bao nhiêu thân phận giống như cô trên cõi đời này. Việc lôi những con búp bê đó ra bày trên sân khấu, rồi thỉnh thoảng kéo lên hay giật xuống là một giải pháp "thô thiển hóa" vấn đề... Ðến hồi cao trào nhất, bốn con búp bê-người múa may làm loãng, làm tan nát sự ra đi của No-ra. Tôi không rõ đạo diễn có định dùng bốn con búp bê-người và những câu (nói đổng, chứ không phải là độc thoại) của Nora: "Nhà búp bê... Nhà búp bê... Nhà búp bê..." để thay cho tiếng sập cửa của nàng Nora hay không? Nhưng dù vô tình hay hữu ý, sự thay thế này cũng là đáng tiếc.
Với Ðứa con bị đánh cắp, lâu lắm mới thấy Doãn Hoàng Giang có một vở mà sân khấu không lổn nhổn bục. Người thiết kế sân khấu, hoạ sĩ Hoàng Hà Tùng đã chia sẻ phần nào ý tưởng sáng tạo (nhiều khi đến cực đoan) của anh. Sân khấu đẹp, thể hiện rõ sự tương phản thiện-ác, đen-trắng. Tiếc là đạo diễn chưa tận dụng được hết sân khấu, nhất là cảnh dùng tấm xoay hai mặt để thể hiện hai anh em sinh đôi một thiện một ác.
Nói gì thì nói, vẫn phải thừa nhận rằng cả ba vở diễn đều sạch, xem được và dù có không quá hay nhưng cũng không đến nỗi dở và sống sượng.
Với tư cách khán giả, chúng tôi đã được bằng lòng với mấy vở "của ta" để cảm nhận về sự thanh nhàn với một năm không Hội diễn (chuyên nghiệp) cho chúng ta những vở kịch "nội hóa" chất lượng, sạch sẽ (dẫu còn điều này, điều nọ cần bàn)...
Chẳng có Hội diễn còn hơn, thật đấy!