Độc đáo gốm Chăm Bàu Trúc

Du khách rất thú vị với hình ảnh hai bàn tay của các thôn nữ Chăm ở làng gốm Bàu Trúc, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước (Ninh Thuận) thoăn thoắt, nhịp nhàng, đôi chân uyển chuyển như một vũ điệu, từng động tác, cử chỉ đều thể hiện sự nhuần nhuyễn, nhịp nhàng để rồi, từng khối đất vô tri được biến thành những sản phẩm gốm sinh động, độc đáo.

Với những họa tiết, hoa văn mộc mạc, những nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đã thổi hồn vào sản phẩm, mang đậm bản sắc văn hóa Chăm.
Với những họa tiết, hoa văn mộc mạc, những nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc đã thổi hồn vào sản phẩm, mang đậm bản sắc văn hóa Chăm.

Làng gốm Bàu Trúc nằm cách TP Phan Rang khoảng 10 km về phía nam. Làng có gần 500 hộ với gần ba nghìn người là đồng bào dân tộc Chăm. Theo truyền miệng, vị tổ của nghề làm gốm tên là Poklong Chanh, đã truyền dạy nghề cho thiếu nữ Chăm hàng trăm năm trước và từ đó đến nay, đồng bào Chăm luôn cần mẫn với việc duy trì nghề được xem là cổ xưa nhất Đông - Nam Á bằng tất cả tâm hồn và sự sáng tạo của mình. Vào dịp Lễ hội Ka-tê hằng năm, bà con làng gốm Bàu Trúc đều tổ chức cúng tế để tỏ lòng nhớ ơn vị tổ nghề.

Gốm Bàu Trúc đa dạng, được làm thủ công cùng kỹ thuật nung độc đáo, cho nên có đặc trưng riêng mang đậm nét văn hóa của cộng đồng Chăm. Gốm Bàu Trúc không có khuôn mẫu, vì thế các nghệ nhân thả sức sáng tạo để nặn thành những sản phẩm phong phú, thổi vào đó cái hồn và những tâm tư của phụ nữ Chăm. Những câu chuyện giản dị trong đời sống, những nét văn hóa đặc trưng của người Chăm đều được đưa vào gốm. Tuy nhiên, dù nặn sản phẩm lớn hay nhỏ, các nghệ nhân luôn làm một cách tỉ mỉ từ công đoạn nặn đến chà láng thân sản phẩm bằng “vải cuộn” thấm nước, quấn vào bàn tay, ngón tay rồi xoa đều, nhẹ nhàng hay miết thật mạnh để tạo cạnh, tạo hình làm điểm nhấn trên sản phẩm. Hoa văn gốm Bàu Trúc được vẽ bằng tay, chủ yếu là hình răng cưa, khắc vạch, sóng nước, hoa văn thực vật, vỏ sò… rất đơn giản.

Nắng hạn kéo dài, cái nóng như bao trùm cả làng Bàu Trúc, nhưng nhiều người vẫn lũ lượt quang gánh đi lấy đất có độ dẻo cao là các lớp đất nằm sâu ở triền sông Quao cách làng vài km. Mỗi năm, chỉ được lấy đất một lần sau mùa thu hoạch lúa, mỗi lần kéo dài nửa tháng. Lấy nhiều hay ít tùy vào khả năng của người lấy, mang về làm sạch, đập nhuyễn, ngâm nước rồi nhồi với cát trắng hạt nhỏ theo tỷ lệ hai đất sét một cát cho thật mịn và trữ sẵn trong nhà để dùng trong cả năm.

Sản phẩm gốm Bàu Trúc luôn được nhiều du khách chọn mua mỗi khi đến tham quan.

Theo chân nghệ nhân trẻ Sử Thị Kiều Lan trên đường đến sông Quao, mới vỡ lẽ là loại đất sét để làm nên sản phẩm gốm của làng Bàu Trúc rất đặc biệt, chỉ có thể tạo hình bằng tay chứ không thể dùng bàn xoay như các làng nghề gốm khác trong nước. Loại đất sét này mịn, mềm, cho ra sản phẩm bóng đẹp. Đồ ăn, thức uống đựng trong đồ gốm làm từ đất sét sông Quao ít bị hư hỏng vì nhiệt độ bên trong sản phẩm gốm thường mát hơn bên ngoài rất nhiều.

Giữa trưa, cùng ngồi nghỉ chân dưới gốc cây duối cổ thụ, bóng che mát hàng chục m2 cạnh sông Quao, chị Lan cho biết: “Ninh Thuận có nhiều làng Chăm lắm, nhưng chỉ có đất sét làng Bàu Trúc mới làm được sản phẩm gốm nổi tiếng. Từ bình hoa đủ dáng kiểu cho đến những Tháp Chăm, tượng các vũ nữ Apsara, bình, ấm nước, nồi niêu, chum vại… Những hoa văn, họa tiết, hình thể, bố cục trên những tác phẩm do các nghệ nhân chế tác muôn hình muôn vẻ là tùy thuộc vào tâm trạng, sự sáng tạo và trí tưởng tượng của nghệ nhân trong mỗi hoàn cảnh để thổi hồn và nỗi riêng của mình vào gốm, bởi vậy sản phẩm gốm Bàu Trúc không bao giờ giống nhau”.

Tại Nhà trưng bày gốm Bàu Trúc tọa lạc trên mảnh đất nằm giữa làng, nhiều du khách thập phương đang chiêm ngưỡng các phụ nữ Chăm với bàn tay gầy đen, lấm lem đất đang thoăn thoắt, nhẹ nhàng thổi hồn mình vào từng thớ đất và trong chốc lát đã “biến” khối đất sét thành những sản phẩm độc đáo. Tranh thủ hỏi chuyện anh Michael Paul - một du khách người Pháp đang chăm chú theo dõi và đôi lúc lại ồ lên ngạc nhiên xen lẫn sự thán phục tài nghệ của các nghệ nhân cứ nhẹ nhàng lướt quanh chiếc bàn xoay cùng với hai bàn tay khéo léo, nhào nặn liên tục để dần lộ ra hình hài một chiếc bình. Anh nói: “Sự chịu khó và tài hoa của người phụ nữ nông thôn trên đất nước Việt Nam rất đáng trân trọng”.

Làng gốm Bàu Trúc giờ đây khá nhộn nhịp. Đời sống của người dân cũng khấm khá hơn với những ngôi nhà được xây dựng khang trang. Vào các ngày lễ, tết hay lễ hội của đồng bào Chăm, rất đông du khách đến tham quan. Để gắn làng nghề với phát triển du lịch, 5 năm qua, địa phương đã có quy hoạch chi tiết và đầu tư xây dựng hạ tầng, cho nên nghề làm gốm nhanh chóng được khôi phục và nhân rộng hơn. Nhờ đó, nhiều công ty du lịch thường xuyên đưa khách đến tham quan làng gốm giàu truyền thống này. Tại đây, du khách được các nghệ nhân hướng dẫn có thể tự tay làm những chiếc cốc, chiếc đĩa; tự tay vẽ hoa văn và nung trên lửa rồi mang về làm kỷ niệm, nhiều người rất thích thú.

Hầu hết phụ nữ Chăm ở Bàu Trúc đều biết làm gốm. Các cháu gái 12-15 tuổi đã bắt đầu học nghề cho đến khi có chồng thì biết làm đủ các sản phẩm từ ấm đất đến lu đựng nước. Mặc dù, mỗi nghệ nhân có thể nhào nặn một lần hàng chục cái bình, tuy nhiên các sản phẩm không bao giờ giống nhau, nên thường gọi là “độc bản”. Điều đáng nói là có những sản phẩm đã bán cho du khách hàng chục năm, nhưng khi gặp lại, các nghệ nhân vẫn nhận diện được do tay mình làm ra.

Theo truyền thống, gốm Bàu Trúc không nung bằng lò, mà thường là chất sản phẩm thành từng đống lộ thiên ở những bãi đất trống trong làng, sau đó ủ rơm rạ, củi và đốt lửa để nung thủ công hàng chục giờ, nhiệt độ từ 500 đến 600oC. Khi gốm chín, có mầu đỏ tươi nguyên của đất sét được tôi luyện qua lửa. Khi xuất lò, các già làng kiểm tra, chọn lựa các sản phẩm đủ tiêu chuẩn mới được đưa ra thị trường. Theo nghệ nhân Đàng Xem, cách nung truyền thống này làm cho những bình dùng để chứa nước uống giữ được độ mát của nước. Độc đáo hơn là, với “bí quyết” kết hợp pha mầu, ém khói khi nung bằng các loại cây khô có trong làng, các nghệ nhân tạo ra các vết mầu loang rất đặc sắc và đậm nét văn hóa Chăm trên từng sản phẩm gốm, như: vàng đỏ, đỏ hồng, vệt nâu… mà ít nơi nào làm được.

Trước đây, nghề gốm chỉ truyền dạy cho phụ nữ, cánh đàn ông chỉ giúp việc lấy đất, đập nhuyễn…, nhưng vài năm trở lại đây, đàn ông cũng làm gốm. Nghệ nhân Đàng Xem được cho là người đột phá đầu tiên. Ông cho biết, phụ nữ ít có ai làm được những sản phẩm mỹ nghệ có kích thước lớn để cung ứng cho thị trường, cho nên đàn ông phải đảm nhận mỗi khi khách hàng đặt làm các cặp bình to, cao gần hai m, nặng cả 100 kg. Tuy nhiên, trong các sản phẩm này đều có sự góp sức của phụ nữ ở công đoạn tạo hoa văn, họa tiết, hình ảnh...

Nghê nhân Đàng Năng Tự, được người dân trong làng đánh giá cao vì biết cách nâng nghệ thuật làm gốm truyền thống lên một tầm cao mới với sản phẩm mỹ nghệ “Tháp Chăm thu nhỏ” rất độc đáo và được xem là nghệ nhân trẻ thành đạt nhất làng. Anh chia sẻ: Khắc hoa văn, họa tiết trên tháp thu nhỏ đòi hỏi phải khéo léo, tỉ mỉ; đồng thời mầu sắc tổng thể của tháp phải thật tươi như tháp thật. Anh có thể làm sản phẩm này với nhiều kích cỡ, cao từ 10 cm tới 1,9 m… giá bán từ vài trăm nghìn đến hàng chục triệu đồng. Sản phẩm anh làm ra được nhiều khách hàng trong và ngoài tỉnh yêu thích.

Hiện tại, làng nghề gốm Bàu Trúc có ba doanh nghiệp, bốn tổ hợp tác và gần 200 hộ làm gốm truyền thống. Tổng doanh thu hằng năm của làng nghề ước khoảng 10 tỷ đồng. Thu nhập bình quân hai triệu đồng/người/tháng

Tuy nhiên, làng gốm Bàu Trúc cũng đang đối mặt không ít khó khăn. Hiện tại, số thanh niên theo đuổi nghề còn rất ít. Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc chính là đại diện đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu tập thể Làng nghề gốm Bàu Trúc, nhưng số lao động theo nghề đang dần mai một. Trước đây, các nghề truyền thống của người Chăm như nghề làm nón, làm bánh tráng, làm chiếu, nghề kim hoàn, nghề đúc đồng, điêu khắc… được biết đến rất nhiều, giờ hầu như bị mai một hoàn toàn, không còn lưu truyền nữa. Nghề làm gốm cổ truyền Bàu Trúc đang được đệ trình hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể, nếu không tiếp tục duy trì và phát triển e rằng cũng sẽ bị thất truyền như những nghề cổ xưa trước đây của cộng đồng Chăm

Từ năm 2006 đến nay, thông qua nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, tỉnh Ninh Thuận đã đầu tư khoảng 30 tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng như: đường giao thông, cổng làng nghề, nhà trưng bày... tạo bộ mặt mới cho các làng nghề, nhưng nếu nhìn một cách tổng thể cho thấy, các làng nghề này vẫn đang lúng túng trong việc tìm lối ra cho sản phẩm của mình. Nguyên nhân là do công tác tiếp thị, quảng bá thương hiệu của các làng nghề chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có; sản phẩm chưa tạo được nhiều sức hấp dẫn đối với du khách và người tiêu dùng…

Có thể bạn quan tâm