Trong cuộc trò chuyện đầu năm về câu chuyện bảo tồn di sản hậu vinh danh, TS. Lê Thị MinhLý - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát huy giá trị di sản văn hóa đã bày tỏ những quan điểm rất tâm huyết từ vai trò là một nhà quản lý cũng như là một nhà nghiên cứu lâu năm về lĩnh vực văn hóa dân tộc, để khẳng định những giá trị đích thực của di sản Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Hãy cùng lắng nghe cuộc trò chuyện đầu năm với TS. Lê Thị Minh Lý để thêm hiểu và thêm tự hào về những di sản Việt Nam.
- Thưa TS. Lê Thị Minh Lý, năm 2016 là một năm đặc biệt vì UNESCO vinh danh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” - một di sản văn hóa phi vật thể mà ngay chính người Việt Nam chúng ta vốn còn đang nhiều tranh cãi. Bà nhận định thế nào về vấn đề này?
Năm 2016 có hai sự kiện được vinh danh, trong đó UNESCO đã ghi danh Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu là di sản phi vật thể thế giới. Đó là sự kiện lớn với cộng đồng người Việt. Có một thời người ta nghĩ thực hành đó lạc hậu, mê tín dị đoan nhưng bỗng chốc thực hành được tôn vinh là di sản của nhân loại. Tôi nghĩ, có nhiều người còn chưa hiểu hết về thực hành này, và cũng không thể hiểu được vì sao trước đây là mê tín dị đoan. Tôi nghĩ đó là dư âm xôn xao nhất và nó sẽ kéo dài tiếp đến tháng 3 năm nay khi chúng ta tổ chức đón nhận bằng chứng nhận của UNESCO.
Tôi nghĩ sự vinh danh này sẽ làm thay đổi trong nhận thức. Thứ nhất, Nhà nước đã ghi nhận giá trị vốn có của thực hành tín ngưỡng, và thứ hai là cũng nhận ra vấn đề nó đang tồn tại. Do đó, từ việc vinh danh thì cộng đồng nhận thức được rõ ràng hơn về di sản, có sự thay đổi quan điểm, suy nghĩ để cùng nhau hướng tới những điều tốt đẹp hơn.
- Chúng ta không ít lần nói về câu chuyện di sản hậu vinh danh. Đặc biệt là chuyện bảo tồn những di sản trước sự biến đổi ngày càng mạnh mẽ của xã hội hiện đại. Việt Nam đã gặp những bài học nhãn tiền bị nhắc nhở. Là một nhà quản lý, bà có lo lắng cho điều này?
UNESCO luôn có nhắc nhở hàng năm với các nước về việc bảo tồn di sản. Cũng như nhiều nước khác, Việt Nam cũng từng bị nhắc nhở ở một số di sản, nhất là di sản vật thể như việc xây dựng đồi Vọng Cảnh ở Huế hoặc trùng tu, xây dựng, đổ cát lấn biển làm ảnh hưởng môi trường cảnh quan tại Vịnh Hạ Long...Tôi cho rằng, bảo tồn di sản vật thể khó hơn vì đó là di sản vật chất, có không gian rất lớn, luôn bị thách thức bởi các yếu tố thiên nhiên, môi trường, hiểm họa..
Cái khó của di sản này là làm sao để cân bằng giữa bảo tồn và phát triển. Nếu khư khư bảo tồn sẽ làm chậm phát triển đất nước, nhưng phát triển quá nhanh như tiến hành việc trùng tu, tôn tạo, xây thêm công trình có tính chất hỗ trợ thì cũng làm ảnh hưởng tới di sản. Nếu làm không tốt quy hoạch và không có tầm nhìn chiến lược thì đôi khi mình phát triển manh mún làm di sản biến dạng.
Một số di sản người mà người dân sống đang sống trong di sản như Hội An, Huế... cũng khó để cân bằng giữa việc bảo tồn nó với sự phát triển của nhiều thế hệ gia đình và mong muốn chủ quan thay đổi môi trường sống của họ.
Tôi cho rằng, trên thực tế để làm điều này không dễ, nhất là với những nước đang phát triển. Tầm nhìn và nhận thức với việc bảo vệ di sản còn có những hạn chế. Nguồn kinh phí không đầy đủ cũng làm cho các mục tiêu chiến lược không được thực hiện dứt điểm khiến việc bảo tồn không đến nơi đến chốn. Hơn nữa, phải tăng cường truyền thông với người dân về di sản.
- Chúng ta cũng đã gặp phải những trường hợp bị UNESCO nhắc nhở trong quá trình bảo tồn. Nhưng chúng ta cũng đã có di sản được bảo vệ trong cộng đồng rất tốt, và được khen ngợi. Chúng ta có quyền tự hào về những cố gắng và nỗ lực trước việc bảo vệ di sản đúng không, thưa bà?
Chúng ta tự hào chứ. Những di sản phi vật thể như Quan họ, Ví giặm hoặc các lễ hội như Tín ngưỡng thờ Cúng Hùng Vương, Hội Gióng... sau khi được vinh danh, các chính quyền địa phương đã quan tâm và có biện pháp bảo vệ cụ thể. Cho tới nay, UNESCO đã ghi nhận 6 năm qua Việt Nam thực hiện bảo vệ di sản khá tốt.
Tự hào nhất của Việt Nam năm nay sẽ là trường hợp Hát Xoan của Phú Thọ. Sau khi được vinh danh là di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp vào năm 2011, năm ngoái Phú Thọ đã làm hồ sơ đề cử mới gửi UNESCO để chuyển di sản này sang danh sách phi vật thể đại diện nhân loại bởi vì thực sự hát Xoan đã hồi sinh và lan tỏa mạnh mẽ trong bốn năm qua.
Báo cáo quốc gia của Phú Thọ được UNESCO đánh giá rất tốt, có giá trị thực tiễn. Sau bốn năm, Phú Thọ đã tăng từ hơn 20 nghệ nhân lên 62 nghệ nhân với số lượng người tham gia vào mỗi phường xoan lên tới cả trăm người. Sự liên kết của cộng đồng Hát Xoan trong từng gia đình làm nên sức sống, tạo dựng được những hế hệ nối tiếp nhau. Hiện nay, Phú Thọ có cả mấy trăm câu lạc bộ hát Xoan. Gần như các trường học ở Việt Trì đưa Hát Xoan vào trong trường học.
Phú Thọ đã truyền dạy cấp tốc số lượng nghệ nhân, phát triển thế hệ kế cận, phục hồi các bài Hát Xoan cổ. Trước kia, Hát Xoan có mối lo ngại trước khi đề cử là không có công chúng thì giờ đã có công chúng và Phú Thọ đã dùng Hát Xoan phục vụ du lịch.
Chính tốc độ của việc bảo vệ và tính bền vững của Hát Xoan nên UNESCO đã đồng ý báo cáo quốc gia của Phú Thọ vào năm 2015. Dự kiến tháng 12-2017, Hát Xoan sẽ được họp để xét.
Như vậy, Phú Thọ là trường hợp đầu tiên trên thế giới là di sản phi vật thể trong tình trạng khẩn cấp tuyên bố hết khẩn cấp để xin sang danh sách phi vật thể đại diện của nhân loại. Do đó, trong năm nay, Việt Nam năm nay sẽ được xét cả Bài Chòi và cả Hát Xoan.
- Trong niềm tự hào, hân hoan đó, để giữ di sản sống trong cộng đồng thì chính chúng ta, sẽ phải làm gì để bảo tồn đúng với giá trị là di sản đại diện nhân loại?
Tôi vẫn luôn nói về vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản. Điều đầu tiên, quan trọng nhất là phải nâng cao nhận thức của cộng đồng để làm cộng đồng hiểu rõ và có những hành động thiết thực để giữ di sản xứng đáng với danh dự được trao.
Những nhà nghiên cứu, nhà quản lý phải chia sẻ và nâng cao nhận thức cho cộng đồng bằng tri thức khoa học chứ không phải bằng biện pháp hành chính, đồng thời tư vấn lại cho nhà nước cách điều phối quản lý thế nào cho hài hòa.
Với những di sản phi vật thể như Ca trù, Hát Xoan, Bài Chòi, Ví Giặm.. muốn có thế hệ trao truyền thì Nhà nước phải có chính sách cơ chế giúp cộng đồng truyền dạy cho lớp trẻ, khuyến khích lớp trẻ học và thực hành di sản đó.
Phải có cơ hội để giới thiệu di sản đó cho công chúng trong nước và quốc tế. Khi họ biết, hiểu thì mới yêu di sản để di sản có chỗ đứng trong xã hội, có công chúng. Tôi nghĩ phải có chính sách văn hóa để những nghệ thuật truyền thống được trình diễn, được sống trong xã hội.
Sắp tới, chúng ta sẽ tiếp tục đề cử Hát Then vào 2018 và Xòe Thái. Hiện nay chúng ta cũng đang làm hồ sơ đa quốc gia về Sơn Mài. Tôi nghĩ, tới đây Việt Nam cũng nên chú trọng tới một số nghệ thủ công, đặc biệt là nghề thủ công mang lại lợi ích kinh tế. Hàn Quốc đã rất thành công với di sản “cách làm kim chi” thì tại sao chúng ta không nghĩ đến nghề làm nước mắm.
Xin cảm ơn TS. Lê Thị Minh Lý và chúc TS năm mới sức khỏe, hạnh phúc!