Tận dụng chất thải làm nguyên liệu thay thế
Từ năm 2018, Tổng công ty Xi-măng Việt Nam (VICEM) đã xây dựng Chiến lược Phát triển bền vững và sản xuất xanh, định hướng mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị theo mục tiêu giảm thấp nhất việc sử dụng nguyên, nhiên liệu hóa thạch, tăng cường sử dụng các nguồn thay thế như bùn thải, tro, xỉ, thạch cao nhân tạo, rác thải công nghiệp thông thường…
Một trong những nội dung nổi bật của chiến lược nguyên liệu thay thế là sử dụng bùn thải. Tỷ lệ sử dụng bùn thải tại các đơn vị thuộc VICEM có xu hướng tăng, từ khoảng 10% lên 20% trong phối liệu. Khối lượng bùn thải được tận dụng ước đạt bình quân 120.000-135.000 tấn/năm. Điều này không chỉ góp phần xử lý lượng bùn thải phát sinh từ các ngành, lĩnh vực khác, mà còn giúp giảm khai thác nguyên liệu thiên nhiên, kéo dài tuổi thọ mỏ và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Cùng với bùn thải, tro xỉ từ các nhà máy nhiệt điện và rác thải sinh hoạt cùng một số ngành công nghiệp khác cũng được ngành xi-măng sử dụng. Tỷ lệ sử dụng tro xỉ làm phụ gia tại các đơn vị thành viên VICEM ngày càng được cải thiện và duy trì ổn định; bình quân toàn VICEM đạt hơn 12%, tương ứng 2,3-2,7 triệu tấn/năm. Việc tích cực sử dụng tro xỉ, rác thải sinh hoạt và các ngành công nghiệp đã giúp xử lý hiệu quả nguồn phế thải, giảm diện tích bãi chứa, giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, đồng thời thay thế một phần tài nguyên khoáng sản không tái tạo.
Ngoài ra, Việt Nam không có mỏ thạch cao, nguồn thạch cao tự nhiên phục vụ ngành xi-măng phải nhập khẩu hoàn toàn. Vì vậy, từ năm 2014, VICEM đã chủ động nghiên cứu sử dụng thạch cao nhân tạo để thay thế dần thạch cao tự nhiên. Đến nay, tỷ lệ sử dụng thạch cao nhân tạo bình quân đạt khoảng 60%. Sản lượng thạch cao nhân tạo tăng mạnh, từ 150.000 tấn năm 2022 lên 342.000 tấn năm 2024, kế hoạch năm 2025 là 508.000 tấn.
Một số nhà máy như VICEM Sông Thao, VICEM Hoàng Mai, VICEM Hải Phòng đã chuyển sang sử dụng 100% thạch cao nhân tạo trong phối liệu xi-măng. Sự chuyển đổi này vừa giúp tận dụng hiệu quả phụ phẩm công nghiệp, giảm áp lực xử lý chất thải, vừa giảm lệ thuộc nhập khẩu, tăng tính chủ động về nguồn cung.
Thách thức và yêu cầu để nguyên liệu thay thế phát huy hiệu quả
Tuy đạt một số kết quả tốt, nhưng việc sử dụng nguyên liệu thay thế vẫn gặp phải những nút thắt. Vấn đề đầu tiên chính là rào cản pháp lý chưa thống nhất giữa các lĩnh vực. Dù pháp luật khuyến khích xử lý chất thải hợp pháp và cần ưu tiên, nhưng trên thực tế, nhiều văn bản vẫn chưa kịp thời cập nhật đồng bộ đối với các loại phế thải công nghiệp để được công nhận là nguyên liệu trong quá trình sản xuất xi-măng.
Bên cạnh đó, nguồn cung chất thải phù hợp để đốt trong lò nung xi-măng cũng đang là một “điểm nghẽn”. Một điều nghịch lý là trong khi nhiều nơi còn đang "ngập" trong rác nhưng thực tế tiếp cận lại không hề dễ dàng. Khi doanh nghiệp xi-măng muốn tiếp nhận rác để xử lý phải trải qua đánh giá tác động môi trường.
Ở phía đơn vị phát thải cũng không được khuyến khích trong cơ chế bán, tặng, chuyển giao rác cho đơn vị xi-măng. Điều này dẫn đến việc nhiều nhà máy không đủ rác để vận hành. Như ở Nhà máy xi-măng Lam Thạch, dù có thể xử lý tới 450 tấn rác/ngày đêm, nhưng thực tế chỉ thu được khoảng một nửa. Thêm vào đó, việc khai thác lại các bãi chôn lấp rác cũ hoặc tro xỉ từ các nhà máy nhiệt điện, lò đốt công nghiệp để sử dụng cũng không hề dễ dàng.
Theo quy định hiện hành, việc khai thác lại rác đã chôn lấp phải được chấp thuận, thông qua các quy trình đánh giá tác động môi trường của nhiều cơ quan quản lý nhà nước. Do thiếu hành lang pháp lý cụ thể, cùng với việc chính quyền địa phương lo ngại ảnh hưởng môi trường cho nên việc “móc rác lên để đốt” là điều khó khả thi.
Để những nỗ lực sử dụng nguyên liệu thay thế đạt hiệu quả, ngoài quyết tâm và đầu tư từ phía doanh nghiệp, rất cần cơ chế, chính sách rõ ràng hơn cho hoạt động đồng xử lý, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất đối với bùn thải, tro xỉ, thạch cao nhân tạo, rác thải dùng làm nguyên, nhiên liệu thay thế; cùng với đó là mô hình hợp đồng ổn định, dài hạn giữa doanh nghiệp xi-măng và các đơn vị cung cấp.
Ngoài ra, cần bổ sung hình thức gia hạn Giấy phép môi trường đối với các dự án không thay đổi về quy mô, công suất, công nghệ sản xuất hoặc thay đổi khác làm tăng tác động xấu đến môi trường. Qua đó giảm áp lực hành chính, tiết kiệm chi phí mà vẫn bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường. Có chính sách cụ thể để khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc xử lý chất thải cùng chính sách hướng dẫn xác nhận lượng phát thải khí nhà kính được giảm trừ từ các hoạt động đồng xử lý chất thải làm cơ sở để ghi nhận, cấp tín chỉ các-bon. Điều này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ.