Trong dòng chảy phát triển của thời đại số, khi cạnh tranh quốc tế ngày càng được quyết định bởi tri thức, công nghệ và năng lực sáng tạo, câu chuyện về khoa học không còn chỉ gắn với phòng thí nghiệm hay các dây chuyền công nghệ hiện đại, phía sau mỗi bước tiến của quốc gia còn là nền tảng tư tưởng, hệ giá trị văn hóa, năng lực hoạch định chính sách và khả năng định hướng xã hội. Chính vì vậy, phát biểu chỉ đạo mới đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp với Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản đã gợi mở một tư duy phát triển rằng phải nhìn nhận khoa học xã hội và nhân văn như một bộ phận cấu thành sức mạnh mềm quốc gia.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khoa học xã hội và nhân văn tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm để bán trên thị trường như nhiều lĩnh vực công nghệ, nhưng lại tạo ra tri thức nền, luận cứ chính sách, mô hình quản trị, hệ giá trị văn hóa, năng lực dự báo và sức mạnh mềm quốc gia. Đánh giá này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới.
Thực tế lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, sự hùng mạnh bền vững không chỉ dựa vào sức mạnh kinh tế hay công nghệ, mà còn được quyết định bởi năng lực kiến tạo hệ giá trị, củng cố bản sắc văn hóa và duy trì sự đồng thuận xã hội. Những quốc gia có nền khoa học xã hội phát triển thường có khả năng dự báo chiến lược tốt hơn, xây dựng chính sách hiệu quả hơn và thích ứng nhanh hơn trước các biến động của thời đại.
Ở Việt Nam, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới và bước vào giai đoạn triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và tự chủ đang đặt ra ngày càng sâu sắc hơn bao giờ hết. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển đất nước dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đồng thời, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Những mục tiêu chiến lược đó không thể thực hiện hiệu quả nếu thiếu vai trò dẫn dắt, định hướng và kiến tạo tri thức của khoa học xã hội và nhân văn.
Khoa học xã hội và nhân văn chính là lĩnh vực trực tiếp nghiên cứu về con người, xã hội, văn hóa, lịch sử, chính trị, truyền thông, quản trị và các quy luật vận động của đời sống xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa hiện nay, lĩnh vực này càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Không khó để nhận thấy rằng những thách thức lớn hiện nay như khủng hoảng niềm tin trên không gian mạng, sự xâm nhập của các giá trị lệch chuẩn, tình trạng thông tin xấu độc, hay các xu hướng cực đoan trong đời sống xã hội đều đòi hỏi những nghiên cứu có chiều sâu về văn hóa, tâm lý xã hội, truyền thông và quản trị xã hội. Đây chính là “địa hạt” của khoa học xã hội và nhân văn.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số đang làm thay đổi mạnh mẽ đời sống con người, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển công nghệ, mà còn phải xây dựng năng lực quản trị xã hội phù hợp với thời đại mới. Một quốc gia có thể sở hữu công nghệ tiên tiến, nhưng nếu không giải quyết tốt các vấn đề xã hội, văn hóa và con người thì rất khó phát triển bền vững. Vì vậy, khoa học xã hội và nhân văn cần được đặt ở vị trí tương xứng trong chiến lược phát triển quốc gia.
Để bảo đảm cho khoa học xã hội và nhân văn phát huy được tối đa hiệu quả, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng lưu ý phải có cơ chế tài chính, cơ chế đánh giá phù hợp với đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn; tránh tư duy thương mại hóa hoặc áp dụng máy móc các tiêu chí đánh giá không phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này. Đây là vấn đề rất thực tiễn hiện nay.
Nhiều năm qua, không ít công trình nghiên cứu xã hội và nhân văn vẫn gặp khó khăn trong việc xác định giá trị đóng góp do bị đánh giá chủ yếu bằng tiêu chí công bố hay khả năng thương mại hóa sản phẩm. Trong khi đó, đóng góp lớn nhất của lĩnh vực này lại nằm ở việc cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách, phát triển văn hóa, nâng cao chất lượng quản trị xã hội và xây dựng nền tảng tinh thần cho phát triển đất nước.
Việc xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại vì thế cần được tiếp cận theo hướng lâu dài và chiến lược hơn. Điều quan trọng không chỉ là đầu tư kinh phí, mà còn là xây dựng môi trường học thuật lành mạnh, thúc đẩy tự do nghiên cứu, đề cao liêm chính khoa học và tạo điều kiện để đội ngũ trí thức phát huy vai trò phản biện, hiến kế và dự báo chiến lược.
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, khoa học xã hội và nhân văn càng phải khẳng định vai trò tiên phong trong việc giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn mới nảy sinh. Không chỉ góp phần hoàn thiện tư duy phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lĩnh vực này còn giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố nền tảng tư tưởng, phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam và tạo dựng sự đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển đất nước ở thời kỳ mới.
Tinh thần mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra không chỉ là đổi mới cách nhìn về khoa học xã hội và nhân văn, mà sâu xa hơn là đổi mới tư duy phát triển quốc gia. Khi tri thức trở thành sức mạnh, thì khoa học xã hội và nhân văn chính là nền tảng để định hình bản lĩnh, bản sắc và tầm nhìn phát triển của dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Muốn xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hùng cường, không thể chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế hay tiến bộ công nghệ, mà còn phải xây dựng được sức mạnh nội sinh từ văn hóa, con người, tri thức và hệ giá trị dân tộc. Đó cũng chính là sứ mệnh lớn lao của khoa học xã hội và nhân văn trong thời đại mới.