Bước đột phá về thể chế
Trong bối cảnh mức sinh tiếp tục giảm và già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, kết quả công tác dân số năm 2025 không chỉ thể hiện nỗ lực của toàn ngành trong “năm về đích” của Kế hoạch 5 năm 2021-2025, mà còn đặt nền móng thể chế cho một chiến lược dân số chủ động, thích ứng và bền vững. Điểm nhấn quan trọng là việc Quốc hội khóa XV thông qua Luật Dân số, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý Nhà nước về dân số, đồng thời đánh dấu sự chuyển hướng căn bản từ tư duy “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển”.
Theo Cục trưởng Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng, song song với xây dựng Luật Dân số, Cục Dân số cũng tham mưu để ban hành hàng loạt văn bản quan trọng, như: Pháp lệnh dân số sửa đổi bổ sung Điều 10 của Pháp lệnh Dân số (cho phép vợ chồng, cá nhân tự quyết định thời gian sinh, số con và khoảng cách giữa các lần sinh); thông tư phân định thẩm quyền trong lĩnh vực dân số theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; tham gia xây dựng nội dung dân số và phát triển trong Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn (2026-2035)... Các hệ thống văn bản này đã tạo thành “hành lang pháp lý” ngày càng hoàn chỉnh bảo đảm công tác dân số có nền tảng thể chế vững chắc, đồng bộ với định hướng phát triển bền vững của đất nước.
Trong bối cảnh khối lượng công việc gia tăng, yêu cầu đổi mới và đột phá ngày càng cao, hàng loạt kế hoạch, chương trình được xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, từ điều chỉnh mức sinh, nâng cao, củng cố chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, làm cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chính sách giai đoạn tới đây.
Trong bối cảnh khối lượng công việc gia tăng, yêu cầu đổi mới và đột phá ngày càng cao, hàng loạt kế hoạch, chương trình được xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, từ điều chỉnh mức sinh, nâng cao, củng cố chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, làm cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chính sách giai đoạn tới đây.
Bên cạnh đó, công tác truyền thông dân số được triển khai bài bản, gắn với sự kiện lớn, như: Ngày Dân số Thế giới, Ngày Tránh thai Thế giới, Ngày Dân số Việt Nam…, góp phần lan tỏa thông điệp về quyền sinh sản, nâng cao chất lượng dân số và đầu tư cho phát triển bền vững. Các hoạt động sáng tạo như cuộc thi “Tuyên truyền viên Dân số giỏi” với sự tham gia của 11 tỉnh, thành phố đã tạo điểm nhấn, khích lệ và tôn vinh, tạo động lực mới cho đội ngũ cán bộ dân số cơ sở và làm mới cách tiếp cận truyền thông, đưa chính sách đến gần hơn với người dân.
Theo báo cáo tổng kết công tác dân số năm 2025, toàn quốc triển khai 11 chỉ tiêu về dân số, trong đó có 7 chỉ tiêu được định hướng cụ thể cho từng tỉnh, thành phố. Kết quả thực hiện cho thấy nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt và vượt kế hoạch. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 74,7 tuổi (vượt mục tiêu 74,6 tuổi); tỷ số giới tính khi sinh được giữ ổn định ở mức 111 bé trai/100 bé gái; tổng số người mới sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là hơn 5,32 triệu người...
Bên cạnh đó, tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh đủ bốn bệnh đạt 57%, cao hơn đáng kể so với mục tiêu 50%; tỷ lệ cặp nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn tăng thêm 21,71%, vượt xa chỉ tiêu tăng 8%.
Khắc phục bất cập, nâng cao hiệu quả dân số
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác dân số năm 2025 còn những “độ vênh” đáng lưu tâm. Đó là tổng tỷ suất sinh chỉ đạt 1,93 con/phụ nữ, thấp hơn mục tiêu 2,1 con; mức điều chỉnh sinh tăng (+0,2), chưa đạt kế hoạch đề ra (+0,3). Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng dân số và thích ứng già hóa còn thấp, tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc đủ năm bệnh chỉ đạt 51% (chỉ tiêu 70%); tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ tăng thêm 6,6%, chưa đạt mục tiêu tăng 10%.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác dân số năm 2025 còn những “độ vênh” đáng lưu tâm. Đó là tổng tỷ suất sinh chỉ đạt 1,93 con/phụ nữ, thấp hơn mục tiêu 2,1 con; mức điều chỉnh sinh tăng (+0,2), chưa đạt kế hoạch đề ra (+0,3). Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng dân số và thích ứng già hóa còn thấp, tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc đủ năm bệnh chỉ đạt 51% (chỉ tiêu 70%); tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ tăng thêm 6,6%, chưa đạt mục tiêu tăng 10%.
Đặc biệt, chỉ tiêu giảm tỷ lệ vị thành niên, thanh niên mang thai ngoài ý muốn chưa có đủ số liệu tổng hợp, cho thấy hạn chế trong hệ thống theo dõi, báo cáo và dữ liệu dân số. Mặt khác, hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong quản lý dân số còn chưa đồng bộ; kinh phí hạn hẹp; phối hợp giữa các phòng, đơn vị đôi lúc chưa thật sự nhịp nhàng. Những “điểm nghẽn” này nếu không được tháo gỡ kịp thời sẽ làm giảm hiệu quả của các chính sách đã được ban hành, thậm chí làm chậm nhịp triển khai Luật Dân số trong thực tiễn.
Để công tác dân số đạt những chỉ tiêu được giao trong năm 2026 và khắc phục những tồn tại, hạn chế, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho rằng: Trọng tâm lớn nhất là khẩn trương xây dựng và ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Dân số; triển khai kế hoạch của Chính phủ về thực hiện Luật; rà soát, bảo đảm sự thống nhất giữa văn bản Trung ương và địa phương. Cùng với đó, nhiệm vụ bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030 phải được cụ thể hóa bằng các chính sách hỗ trợ thiết thực, khả thi, phù hợp với điều kiện ngân sách và đặc thù vùng, miền. Việc kiện toàn Ban chỉ đạo quốc gia về Dân số và Phát triển, ổn định hệ thống cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số, tăng cường kiểm tra, giám sát địa phương sẽ là những “đòn bẩy” quan trọng để đưa chính sách đi vào cuộc sống.
Bên cạnh đó là việc tiếp tục tham mưu, ổn định mô hình tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; trong đó, ưu tiên giải pháp ổn định hệ thống cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số. Đặc biệt, trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, yêu cầu nâng cao chất lượng dân số và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần được đặt ở vị trí trung tâm của các chương trình, đề án. Ưu tiên ngân sách cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa để bảo đảm tối thiểu năng lực cung ứng dịch vụ sàng lọc và chăm sóc người cao tuổi tại tuyến xã. Xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ, kết nối với cơ sở dữ liệu dân số dân cư quốc gia; ổn định tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ dân số cơ sở.
Luật Dân số đã mở đường, nhưng hiệu quả thật sự chỉ được khẳng định khi các chính sách đi vào thực tiễn, khi mỗi gia đình, mỗi người dân cảm nhận rõ lợi ích của những chính sách mang lại. Đặt Dân số vào trung tâm chiến lược phát triển bền vững không chỉ là một khẩu hiệu, mà phải trở thành nguyên tắc cho những hành động mạnh mẽ triển khai trong giai đoạn 2026-2030.