Ký sự Hà Thành

Có ai lúc tối đèn?

Có phải chúng ta đang bước qua ngưỡng cửa của một thời thiếu đủ mọi thứ, người ta nương tựa vào nhau, xích lại gần nhau mà sống? Có phải khi đã ăn no và mặc ấm, hàng xóm láng giềng hóa ra thừa và vướng víu? Tắt lửa đã có bếp ga, bếp điện. Tối đèn thì sẵn đèn xạc tích điện. Tình người là thứ "muối đời" mặn nhất. Muối mà còn nhạt, biết lấy gì bỏ vào cho mặn?

Nhớ một thời xa vắng, cách đây gần ba chục năm, nơi tôi ở gọi là xóm "cấp bốn". Mái lợp ngói, nhiều chỗ vá víu giấy dầu. Nhà nọ ngăn cách nhà kia bằng cót ép. Lúc "tắt lửa, tối đèn" luôn có nhau. Cho nhau vay cân gạo, chai dầu. Cho nhau bát canh, quả cà, đĩa dưa. Xóm "cấp bốn", dân thì "cấp cao", toàn là nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ hoặc nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ. Ai đi nước ngoài về đều có quà cho cả xóm: viên đá lửa, chiếc bút bi hay bánh xà-phòng thơm. Một điếu thuốc 555 thơm cả xóm, quả táo Tây chia nhau thơm khắp năm gian nhà. Bao giờ cho đến... ngày xưa? Nay, mọi nhà đều xây lên ba, bốn tầng. Vênh mặt với ngôi nhà tập thể năm tầng xuống cấp, tróc lở vôi vữa. Vẫn là những người quen cũ, mà như người dưng nước lã. Chiều và tối, cả xóm vẫn im ắng như không người. Họa hoằn mới thấy mặt nhau lúc đổ rác. Khẽ gật đầu, đưa mắt, thế thôi!

Có lẽ đang diễn ra sự xáo trộn lớn, nhưng thầm lặng trong cuộc sống tinh thần. Thử tò mò ghé mắt qua khe cửa một ngôi nhà nào đó quanh đây, có thể cảm thấy hơi lạnh lọt ra. Nhà ba, bốn tầng rộng thênh thang, chỉ còn hai ông bà già đã về hưu. Có hai người con thì cả hai đều ra ở riêng cho thoải mái, tự do. Cả đời chả hề động đến máy vi tính, không biết "nối mạng" là gì. Thế mà mấy năm gần đây họ phải mày mò, tự giam mình trong thế giới mạng để trò chuyện dăm câu với con, để nghe tiếng cháu bi bô, cho vơi bớt nỗi nhớ. Ngày trước, hai ông bà thường đi xe buýt đến với chúng hằng tuần. Giai đoạn "trứng nước" đã qua, "vả lại nhà nó đã kiếm được ô-sin thay thế ông bà rồi, nhiều lúc mình thành ra người thừa", cụ bà than thở với tôi. Bà ngao ngán thở dài, có đời thuở nào lũ trẻ lại quấn quít, quý mến ô-sin hơn cả ông bà. Có đứa trẻ bện hơi cô giúp việc đến mức thiếu là không ăn, không ngủ. Mẹ chúng thì lo mải kiếm tiền từ sáng sớm đến tối mịt, còn đâu thời gian chăm sóc, gần gũi con.

Những chuyện như thế tôi đã nghe, đã thấy nhiều, dù không phải tất cả, nhưng có lẽ đang là một "làn sóng" âm thầm dâng lên, cuốn đi, khó cưỡng nổi. Ở một khu đô thị mới, cách trung tâm Hà Nội hơn chục cây số, tôi quen biết vợ chồng ông bạn người Hà Nội gốc. Nhà trong phố cổ bán cho người ta phá đi xây khách sạn, rồi chia cho mấy người con. Nay mỗi người một cơ ngơi, "sống mỗi người mỗi nhà..." mà. Ông bà ở cách con cái chỉ dăm cây số nhưng ngỡ như nửa vòng Trái đất. Ðiện thoại bàn, rồi di động quá thuận tiện, dăm bữa nửa tháng chỉ "ới" một câu là xong! Hôm tôi tìm đến thăm, chung quanh thưa vắng bóng người, đất hoang cỏ mọc rậm rì. Không hàng xóm, láng giềng, người thân. Họ hàng ngại đến, bạn già ngại thăm. Hằng ngày, ông bà làm bạn với mấy con chó Nhật. Thôi thì lấy chuyện chăm sóc loài vật là niềm vui. Hằng tuần theo ấn định, ông bà hẹn giờ "chat" với con cháu, dù gần lắm, chỉ đi một cuốc xe ôm, một tuyến xe buýt phải đổi bến vài lần là đến. Có lần, ông cụ kể, "đứt mạng" không biết gọi ai đến sửa. Lỡ một cuộc hẹn trên mạng, ông bà cảm thấy như bị cắt đứt sợi dây tình cảm còn lại với cuộc đời. Nếu có mệnh hệ gì, chắc con cháu cũng đành lỡ suốt đời. Tối hôm ấy, họ cứ níu tôi ở lại dù đã khuya. Họ giãi bày những điều gan ruột. Mấy năm trước, ngày nghỉ cuối tuần hay dịp nghỉ lễ, con cháu thường kéo về ăn uống, vui chơi. Bận bịu, mệt một chút nhưng mà vui, nhà cửa đầy tiếng trẻ. Giờ thì có gọi điện giục, chúng cũng tìm cớ, viện lý do còn phải đưa bọn trẻ đi chơi với bạn bè, cơ quan. Nhiều khi chúng còn kéo nhau đi nhà hàng, khách sạn. Bảo rằng phải thay đổi không khí, đổi món, với lại để cho ông bà đỡ vất vả, lấy sức còn nghỉ ngơi. Nghe có lý, phải đạo quá đúng không ông, bà cụ đột ngột hỏi tôi. Không kịp để tôi ngẫm nghĩ, trả lời, bà tiếp, chúng đâu có hiểu rằng, ở cái tuổi gần đất xa trời này, chúng tôi có thiếu gì đâu, có cần gì nhiều đâu. Nếu có thiếu là thiếu tiếng nói, tiếng cười, cả tiếng khóc của lũ trẻ. Nhà cửa rộng rãi, thênh thang mà quanh đi quẩn lại chỉ có hai ông bà lủi thủi vào ra, có khác gì nhà dưỡng lão. Tôi không nỡ ngắt lời bà cụ, cũng không đành lòng trút thêm nỗi buồn vào lòng người già cô đơn.

Hiện tại của họ, biết đâu đấy chẳng là tương lai của tôi? Ðây có phải là một góc khuất của một xã hội phát triển? Tôi đã thấy, những căn hộ, những ông bố, bà mẹ như thế này. Con cái trưởng thành, mỗi đứa mỗi nơi. Thậm chí đi du học, rồi lấy vợ lấy chồng, sinh con và định cư ở nước ngoài. Không ít người được bay sang Mỹ, Anh, Pháp... thăm con cháu. Sướng thì sướng thật, nhưng chỉ ở độ dăm bữa, nửa tháng, không chịu nổi, nằng nặc đòi về. Hỏi chuyện họ kể lể, buồn chán như bị "giam lỏng". Lạ nước, lạ cái, tiếng tăm không biết, không biết đi đâu, làm gì. Con cái đi làm từ sáng sớm tới tối mịt. Trẻ con thì đi học cả ngày, có về đến nhà cũng chẳng biết chuyện trò gì với ông bà bởi bất đồng ngôn ngữ. Thế đấy, ở bên đó, người ta đã từng nói tới một cộng đồng người già không ai nương tựa, cô đơn giữa muôn người. Cô đơn giữa những khu dân cư sầm uất. Có bà mẹ vừa sang thăm con gái ở

Pa-ri về, vẫn chưa hết bàng hoàng bảo, rất nhiều những vợ chồng già vật vờ trong các căn hộ mênh mông, tiện nghi dư thừa. Thiếu hơi ấm con cháu, ngay cả tiếng khóc, tiếng cười, cãi cọ. Hằng ngày, họ lầm lũi dắt nhau vào siêu thị không mua sắm gì, chỉ cốt được thấy mặt người, nghe tiếng người huyên náo. Chiều chiều kê ghế ngồi ngoài cửa, chờ xem có ai đi ngang qua. Một người dưng cũng được, để được hỏi han, trò chuyện. Vài tuần họ chờ đợi nhân viên bảo hiểm xã hội đến thăm hỏi. Thời trước, con cái mỏi mắt mong ngóng cha mẹ. Thời nay, cha già mẹ héo đỏ mắt trông con. Căn hộ khép kín, lòng người khép kín. Tôi nhớ có đọc một mẩu tin trên báo: "Một bà lão sống độc thân trong một chung cư ở Thủ đô Luân Ðôn. Một hôm người thợ điện đến sửa chữa đã phát hiện bà cụ chết khô năm ngày mà hàng xóm không ai biết". Nghe lạnh cả người! Nhà văn Nhật Bản Mu-ra-ka-mi nổi tiếng thế giới với hàng chục cuốn tiểu thuyết được dịch ra nhiều thứ tiếng. Thực ra, ông chỉ viết một chuyện duy nhất: nỗi đau về sự thiếu vắng tình người, nỗi lo sợ vì sự sung túc bất thường, sự vô vị của cuộc sống nặng vật chất, mà hời hợt, nông cạn...

Hẳn nhiên chẳng nên "bi kịch hóa" xã hội đang tiến lên hiện đại. Nhưng ngay lúc này đã thấy trước, thấy từ xa những con sóng vô tình và vô cảm đang tiến gần đến, ngấp nghé ngoài cửa. Sóng chỉ dừng lại trước những ngôi nhà xập xệ, những thân phận lao động lam lũ, dặt dẹo. Trong một xóm lao động có những ngõ nhỏ chật hẹp, bí bức, tôi thấy hầu như nhà nào cũng chỉ thắp một ngọn điện. Hỏi chuyện bà lão bán nước chè, bà bảo, nghèo thì phải hà tiện, một ngọn đèn cũng đủ sáng cả nhà. Vậy mà vẫn leo lắt một ngọn đèn dầu? Là vì, hầu hết đều dùng than tổ ong, hàng xóm vẫn chạy sang nhau xin lửa lúc mất điện. Ở Hà Nội, còn nhiều lắm những ngõ nhỏ, xóm nhỏ lao động như thế. Cả nhà chen chúc trong một căn nhà không đủ cả khí trời lẫn ánh sáng. Hiện tại của họ là quá khứ của mình. Còn hiện tại của mình có trở thành tương lai của họ hay không? Chẳng lẽ cứ phải sống nghèo, thiếu thốn thì mới cần tình làng nghĩa xóm? Ðã có những đôi vợ chồng già người Mỹ, Pháp từ bỏ thế giới thừa thãi vật chất, sang Hà Nội sống những năm tháng còn lại. Họ giải thích, hàng xóm của chúng tôi thật thân thiện và cởi mở. Những người bán bánh mỳ rong, đánh giày, bà đẩy xe rác, người mua đồ cũ... luôn giơ tay niềm nở "hello" mỗi khi gặp vợ chồng tôi... Hình như có những thứ quá nhỏ, giản dị như một ánh mắt, một lời chào, những lời hỏi thăm nhau, lại có thể làm cuộc sống ấm áp hơn.

Có thể bạn quan tâm