Ngôi mộ duy nhất còn nguyên vẹn xương cốt và quần áo
Khi nắp quan tài bật mở, tất cả bùn đất tích tụ từ thiên niên kỷ I trước CN đến giờ đã phủ kín hiện vật. Gạt nhẹ lớp bùn, nhóm khai quật nhìn thấy người chết được đặt nằm ngửa, thân bó vải, hai tay để xuôi, chân duỗi thẳng. Ngoài ra, còn phát hiện một số hiện vật đi kèm là đồ gốm, hạt thực vật.
So với các mộ thuyền Đông Sơn được phát hiện từ những năm 1960, 1970 tại Châu Can (Hà Tây), Việt Khê (Hải Phòng), La Đôi (Hải Dương)... thì đây là mộ duy nhất còn nguyên vẹn xương cốt với quần áo hoàn chỉnh.
Phát hiện này khiến các chuyên gia Viện Khảo cổ và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á vô cùng phấn khởi. Bởi cái lẽ tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc thì cốt sọ giữ vai trò quan trọng nhất. Thế nhưng những cốt sọ trước đây thường bị mủn nát. Trong khi đó, những cốt sọ có liên quan đến việc giải quyết vấn đề nguồn gốc trực tiếp của dân tộc Việt Nam, tức là những cốt sọ thuộc cuối thời đại Đồng thau và sơ kỳ thời đại Sắt (giai đoạn Đông Sơn), lại không nhiều.
Phát hiện này cho phép khẳng định tổ tiên trực tiếp của người Việt Nam là những người đã sáng tạo ra nền văn hóa Đông Sơn!
Quan tài "bơi" trên sông Cửu An
Quan tài Động Xá dài 2,3m, phần đầu rộng 0,73m, phần đuôi rộng 0,4m. Cả thân và nắp đều được khoét vũm lòng máng. Do bị ngâm bùn nước lâu ngày nên quan tài có mầu nâu đen, nhờ làm bằng loại gỗ tốt nên vẫn còn chắc chắn.
Một điểm đặc biệt là mộ thuyền Động Xá được làm bằng chính con thuyền gỗ độc mộc chứ không phải lấy thân cây khoét rỗng như các di chỉ mộ táng Đông Sơn khác.
Theo ông Nguyễn Văn Việt (Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á) thì Động Xá là điểm đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á tìm được thuyền độc mộc Đông Sơn!
Tiến sĩ Bùi Văn Liêm (Viện Khảo cổ học Việt Nam) cũng nhận định: "Quan sát lòng quan tài, chúng tôi thấy chừa ra mộng khớp vốn là một kiểu chế tác thuyền độc mộc thời Đông Sơn. Vì vậy, rất có thể trước khi trở thành mộ thuyền, quan tài này đã được cư dân Đông Sơn dùng làm phương tiện giao thông".
Để chứng minh giả thuyết trên, ông Liêm và các cộng sự đã thực nghiệm cho quan tài bơi trên mặt sông Cửu An thì quả nhiên thuyền chạy re re!
| Tiến sĩ Bùi Văn Liên và hố thám sát. |
Tín ngưỡng về chiếc thuyền đưa hồn người chết đến thế giới bên kia vốn là một tín ngưỡng tiền Phật giáo ở Đông Nam Á. Cư dân ở xứ sở thờ thần Mặt trời luôn tin rằng linh hồn người chết sẽ được chở đến thế giới bên kia, xứ sở của hồn, trên một con thuyền. Và để chuẩn bị cho cuộc viễn du về xứ sở của hồn, người ta đã chất lên chiếc thuyền nhiều thứ dụng cụ, vũ khí và cả sinh vật. Người ta cũng đã bỏ rất nhiều công phu để làm nên một chiếc quan tài như đã phát hiện. Với trình độ kỹ thuật lúc bấy giờ, đặc biệt là kỹ thuật chế tác đồ gỗ đã phát triển, thì việc chế tác quan tài mộ thuyền hay kỹ thuật đóng thuyền, có lẽ cũng không khó khăn gì.
Theo các nhà khảo cổ học, mộ thuyền ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở miền đất thấp của châu thổ Bắc Bộ và vùng đồng lầy trũng sông Đáy, sông Hồng.
Trong khi đó, các di tích Đông Sơn lớn đã được khai quật, như Làng Cả (Vĩnh Phú), Đông Sơn, Thiệu Dương (Thanh Hóa), Làng Vạc (Nghệ Tĩnh) lại hoàn toàn không có vết tích nào của quan tài, của đất đen hay của sự bố trí di vật, để chúng ta liên tưởng tới sự có mặt của mộ thuyền.
Phải chăng chính những con người, mà điều kiện sống của họ gần giống với những người "sống ngâm da, chết ngâm xương" về sau, đã nghĩ ra hình thức mai táng trong quan tài hình thuyền? Sống đã thường ở trên thuyền, thì chết cũng ở trên thuyền, có gì là lạ?!
Giữ được xương cốt mà không cần ướp xác!
Làm thế nào mà sau 2.500 năm, các "cụ" nhà ta vẫn còn nguyên vẹn xương cốt, trong khi kỹ thuật ướp xác và sử dụng hợp chất đến thời Lê sơ mới có?
Kỳ thực, người Đông Sơn ở Động Xá cũng tiễn đưa thân nhân của mình như chúng ta ngày nay, tức là họ đặt quan tài dưới lòng đất rồi lấp đất lên. Thế nhưng (thật may mắn) do quan tài nằm sâu dưới lớp đất sú vẹt (lớp này là kết quả của quá trình biển tiến cách đây trên dưới 4.000 năm), nên tiết ra khí Mê tan nồng độ cao có khả năng tiêu diệt các loại vi khuẩn ăn gỗ. Bởi vậy mà nó vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay.
Trong việc nghiên cứu xã hội đã qua, mộ cổ có một vị trí khá quan trọng. Trong thời đại Đồng thau và sơ kỳ thời đại Sắt có nhiều hình thức mai táng như mộ huyệt đất, mộ vò, mộ cự thạch...
Nhưng với điều kiện địa lý Việt Nam - một nước nhiều đầm lầy và sông ngòi, với một cư dân từ ngàn đời vẫn gắn liền với sông nước, mà biểu hiện sinh động nhất đã được khắc họa trên trống đồng, thạp đồng, thì hình thức mai táng bằng thuyền chắc là phổ biến trong thời cổ.
Thế nhưng cho đến nay, công cuộc nghiên cứu mộ thuyền Đông Sơn cũng mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu.
Bởi vậy, "sự kiện" Động Xá, một vùng chiêm trũng diện tích chỉ vài trăm mét vuông, có mật độ đậm đặc các di tích mộ thuyền Đông Sơn (gần 40 mộ từ trước đến nay) cùng với trống đồng Động Xá cũng lần đầu tiên được phát hiện (năm 1998) thực sự là tín hiệu khả quan.
"Có khả năng Động Xá vừa là di chỉ cư trú, vừa là di chỉ mộ táng". TS Liêm đánh giá.
Theo Thể thao và Văn hóa
Tin, bài liên quan