Chợ lao động Cao Phong

Bốn rưỡi sáng, trời nhá nhem tối, sương đêm vẫn còn phủ một lớp đặc quánh càng làm cho cái lạnh thêm tê buốt. Thế nhưng tại các ngả đường đổ về thị trấn, những bóng người hối hả gò lưng trên chiếc xe đạp vẫn băng băng trong sương đêm đến chỗ tập kết. Có người ở xã xa chắc phải dậy từ hai ba giờ sáng để xuống chợ. Họ là những phụ nữ tại các xã trong huyện Cao Phong tìm tới đây kiên nhẫn chờ đợi một ngày làm việc mới.

Khu chợ lao động này hình thành chừng hai năm nay, mỗi ngày lại thấy xuất hiện vài gương mặt mới. Bà Bình, bán quán nước cho biết: "Chợ"mỗi ngày một đông do các công trình xây dựng mọc lên như nấm vì thế nhu cầu thuê lao động tăng nhanh. Hôm nay có nhà đổ mái cho nên "chợ" cũng họp sớm hơn thường lệ".

Vài người vừa kịp giở bữa ăn lót dạ đã có một người phụ nữ đỗ xịch chiếc xe máy, lập tức người nào người nấy đổ xô tới. Người đàn bà chẳng xuống xe nói: "Cần 15 người đổ bê-tông, giá vẫn như mọi khi". Tôi len qua đám người tò mò: "Phụ nữ cũng làm được những việc này hả chị?". Người đàn bà nhìn chằm chằm vào tôi vài giây: "Có muốn thuê đàn ông ở xứ này cũng không có. Ðược cái, phụ nữ miền núi họ có sức khỏe, lại cẩn thận, đằm tính mà không kỳ kèo với chủ khi đã thỏa thuận trước".

Quay trở lại đám đông, dường như không có cuộc ngã giá nào cả. Chỉ vài phút sau, đúng 15 người đàn bà vội vã đạp xe đuổi theo chiếc xe máy và mất hút trong làn sương. Tôi lân la hỏi người phụ nữ khi nãy đang ăn dở gói xôi, giờ quay trở lại tiếp tục bữa sáng: "Chị không được chọn à?". Người đàn bà tên Toan trả lời: "Không phải là không được chọn, mà ai cũng lượng sức mình cả, mỗi người quen một việc, chờ "mối" khác thôi. Tôi chỉ quen chở và xếp gạch. Việc đổ bê-tông cần những người có sức khỏe dẻo dai. Mình có cố cũng không làm được, mất uy tín".

Thông thường, các chợ lao động ở cửa khẩu hoặc đồng bằng, cũng có phụ nữ, nhưng chiếm phần nhiều là cánh đàn ông. Nhưng ở chợ vùng cao heo hút này, chỉ rặt đàn bà. Họ là những người phụ nữ dân tộc Mường, Dao, có người tới "chợ" vẫn mặc những chiếc váy truyền thống. Họ sẵn sàng làm mọi việc mà lẽ thường chỉ dành riêng cho nam giới: Bốc xếp hàng hóa, khuân vác sắt thép, xi-măng, phụ hồ, chuyển đồ đạc, san nền đất, đắp lòng đường...

Họ, mỗi người một thân phận, ai cũng đáng thương. "Ðàn bà vùng này cực lắm, có chồng như không. Năm có mười hai tháng thì các lão đi thuyền mười tháng, nhưng lúc về chả đưa được đồng cắc nào. Không ra đứng đây làm thuê thì lấy gì nuôi con?" - chị Ðinh Thị Loan (dân tộc Dao) nói. Bà bán nước nhanh mồm chen vào câu chuyện: "Nhà có thằng đàn ông làm trụ cột thì đi quanh năm ngày tháng. Ðược chủ trả cho đồng nào cũng cờ bạc, rượu chè, hút sách, lấy tiền đâu đem về cho vợ con. Ðàn bà dân tộc vùng này khổ lắm, có chồng cũng như không. Ối gã đi làm thuê chán rồi trở về nhà thân tàn ma dại vì nghiện ngập. Bao nhiêu công việc gia đình đổ hết lên đầu vợ. Nhưng được cái phụ nữ ở đây nhẫn nhục lắm".

Trước khi có chợ lao động này, những người phụ nữ vốn quanh năm quẩn quanh đồng ruộng, vườn tược, con trâu, con gà nhưng khi đã gia nhập vào "guồng" cũng nhanh chóng tiếp cận với công việc. Chị Toan trút bầu tâm sự: "Hai năm xuống đây làm mướn, kiếm được đồng tiền cũng vất vả lắm. Mình đi phục vụ việc cho nhà người, việc nhà mình thì bỏ bê cho con cái tự chăm nhau. Nhiều đêm về khuya thấy chúng nó ngủ ngay cạnh mâm cơm sao thấy cơ cực quá. Mình con nhỏ thì phải về, nhiều chị nhà xa thuê nhà trọ ngủ luôn". Mấy năm nay, thời tiết khắc nghiệt khác thường, rau màu, cây cối xơ xác, trâu bò, lợn gà rét qua cứ lăn ra chết hết cả, ấy cũng thêm một lý do chợ lao động ngày càng tấp nập.

Không hẳn những người có gia đình mới xuống "chợ", Lý Thị May năm nay 17 tuổi, cái tuổi bẻ gãy sừng trâu nói: "Nhà cháu đông anh em lắm, cháu là con đầu, bố đi làm thuyền bị lũ cuốn trôi không tìm thấy xác cách đây ba năm. Ðược các cô rủ xuống đây làm được hơn một năm mới có đồng ra đồng vào giúp mẹ mua gạo, ngô nuôi bốn đứa em đang đi học". Bởi trẻ khỏe nên May được nhiều người thuê làm, do tham công tiếc việc nên tuần trước May bị ốm nửa tháng trời. May bảo: "Cháu rút kinh nghiệm rồi, cứ tham công tiếc việc, khi ốm thì tiền thuốc cũng quá tội cô ạ".

Quá giờ trưa, phần đông những người còn ngồi lại bắt đầu lục tục lấy cơm ra ăn. Một nắm cơm, một chút muối vừng, vài lát gừng kho với muối và dăm ba cọng rau luộc... là gọn bữa trưa. Từng người mở đồ ăn và san sẻ cho nhau. Bữa trưa được chuẩn bị từ tối hôm trước, nguội tanh nguội ngắt nhưng họ vẫn ăn ngon lành và kết thúc chóng vánh bởi vừa trải qua một buổi lao động vất vả. Xong xuôi, các chị tranh thủ giở túi đồ tranh thủ thêu khăn, đan áo len và cả vá quần áo cho chồng con trong lúc chờ việc.

Chị Loan chỉ tay về phía xa tít tắp nói: Nhà tôi ở phía ấy, xóm lèo tèo vài chục nóc nhà, chồng đi biền biệt. Những ngày rỗi việc mùa màng, cày cấy lại đổ về ngã ba này chờ đợi, ai mướn gì cũng làm. Nhiều năm trôi qua dân vùng này mới gọi là... "chợ người". Mới đầu nghe dân họ gọi thế thì ngơ ngác, sau hiểu thấy tủi thân, ngượng ngùng, nghe mãi rồi đâm thành quen. Mình đem sức lao động đổi lấy tiền, có ăn cắp ăn trộm gì đâu mà phải xấu hổ, phải không cô?

 Ðầu buổi sáng, chợ có vẻ nhộn nhịp, cứ năm, mười phút lại có chủ tìm tới thuê người. Nhưng không phải ai cũng kiếm được công việc ưng ý. Cứ mỗi lần đổ xô tới vây chung quanh người chủ, có người hớn hở đi ngay, kẻ lại tiu ngỉu quay lại chỗ ngồi và kiên nhẫn chờ đợi. Chị Loan nhỏ nhẹ: "Ði "chợ" này cũng như đi câu cô ạ, hôm thì làm chả hết việc, hôm lại ngồi vêu hết buổi lại đi về".

Mười giờ sáng, chợ đã kém náo nhiệt, chỉ còn chục phụ nữ kiên nhẫn chờ đợi, người ngồi bó gối, kẻ nhổ tóc sâu, tóc bạc cho nhau. Hôm nay, họ là những người kém may mắn. Nếu hôm nào "đắt hàng", cả buổi cũng chạy được hai "sô" kiếm được 45-50 nghìn/người (không ăn cơm nhà chủ).

Dường như nơi cơ hàn, tình người càng thêm ấm cúng, sẻ chia. Ðiều ấy càng thể hiện hơn ở khu "chợ" đặc biệt này. Chị Lại Thị Chính nói: "Có chị em đạp xe cả mấy tiếng đồng hồ xuống đợi việc mà chả ai thuê, những người kiếm được việc lại san sẻ bữa cơm trong ngày cho những người ngày hôm đó không kiếm được việc. Chấp nhận cơ cực vất vả, lại cùng cảnh ngộ, ai nỡ để họ nhịn đói mà về. Ngày nay mình có việc làm, mai có thể ngồi không, chả ai đoán được. "Chợ" đông người nhưng việc thì không phải lúc nào cũng nhiều nhưng không ai tranh giành hay cãi cọ, có người tự nguyện nhường công việc của mình cho người khác, tất nhiên cũng phải phù hợp với khả năng.

Ba giờ chiều, còn lại vài người lẻ tẻ uể oải rời chợ ra về. Họ là những người kém may mắn bởi hôm nay xuống chợ mà không kiếm được việc làm. Những dáng người nhỏ bé gò lưng trên chiếc xe đạp nhưng không trong tâm thế gấp gáp như trong buổi sớm mai mà tôi từng nhìn thấy dần mờ khuất về phía các bản làng, để rồi ngày mai lại hối hả xuống "chợ" kiếm tìm việc làm để mưu sinh.

ĐẶNG THANH HÀ

Có thể bạn quan tâm