5% và 30%
Theo thống kê của ngành y tế, tổng nguồn tài chính ngân sách Nhà nước chi cho y tế (không bao gồm viện phí, viện trợ và vay nước ngoài) hằng năm ổn định ở mức khoảng 5% tổng chi ngân sách Nhà nước (GDP). Mức đầu tư ngân sách Nhà nước cho y tế như vậy là thấp, chỉ chiếm tỷ lệ 30% tổng chi y tế. 70% còn lại là chi tư, trong đó phần lớn là do gia đình chi trả trực tiếp từ tiền túi. Các chuyên gia đều đánh giá, cách chi này gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng và được coi là mất công bằng.
Mức đầu tư như vậy thấp hơn nhiều so với mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đối với các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người như Việt Nam. WHO cho rằng chi tiêu y tế hiệu quả ở một nước có thu nhập thấp cần khoảng 12% GDP của nước đó. Ðáng chú ý, mức đầu tư từ ngân sách Nhà nước cũng chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu tối thiểu về chi thường xuyên của ngành y tế.
Cũng từ việc đầu tư chưa đủ, cho nên việc phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính y tế cho các lĩnh vực, địa phương cũng chưa thật sự phù hợp. Ngân sách phân bổ cho hai lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh mất cân đối. Chi cho y tế dự phòng thường có tỷ lệ thấp, điều này dẫn đến phần lớn người dân ở cộng đồng, nhất là người nghèo chưa được hưởng đầy đủ lợi ích do y tế mang lại từ nguồn ngân sách Nhà nước.
Theo thống kê của Bộ Y tế, giai đoạn 1998 - 2003, trong nguồn vốn chi cho y tế trực tiếp (khám, chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, kiểm nghiệm, kiểm dịch) thì chi cho công tác khám, chữa bệnh chiếm từ 84 đến 86%; chi cho phòng bệnh chỉ chiếm 14 đến 16%. Trong ngân sách Nhà nước chi cho phòng bệnh thì chi cho các chương trình mục tiêu y tế quốc gia chiếm phần lớn, khoản ngân sách này được duy trì tương đối ổn định qua các năm.
Tại các địa phương, hiện nay việc phân bổ ngân sách cho công tác chăm sóc sức khỏe người dân được dựa trên số dân. Thoạt đầu là hình thức công bằng, mọi người dân, ở mọi địa phương không phân biệt khả năng chi trả, đều được hưởng thụ một phần bằng nhau từ nguồn tài chính của Nhà nước.
Tuy nhiên, một điều kiện tiên quyết cho giả thuyết này là tất cả các nhóm dân đều có cùng nhu cầu chăm sóc sức khỏe như nhau, nghĩa là có gánh nặng bệnh tật như nhau. Nhưng, điều này lại chắc chắn không thể xảy ra. Người nghèo bao giờ cũng có nguy cơ mắc các bệnh lớn hơn so với người khá giả, vùng kinh tế giàu hơn. Chính vì vậy, nước ta đã áp dụng hình thức phân bổ dựa trên đầu người dân, có hệ số điều chỉnh. Giai đoạn 2003- 2006 được Thủ tướng Chính phủ quyết định định mức được xác định theo hệ số 1,1- 1,4 và 1,8, lần lượt cho các vùng đồng bằng; núi thấp/vùng sâu; núi cao/hải đảo so với vùng đô thị. Hệ số này chưa phản ánh được sự khác biệt về nhu cầu chi sự nghiệp cho y tế giữa các vùng, miền. Do vậy, đến năm 2007 Thủ tướng Chính phủ quyết định nâng định mức và hệ số phân bổ ngân sách giữa các vùng rõ ràng hơn, ưu tiên hơn cho các vùng núi cao và hải đảo, theo đó hệ số lần lượt là 1,35 - 1,72 và 2,4.
Tuy nhiên, thực tế nhiều địa phương không có đủ ngân sách, cho nên kinh phí cấp cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn chưa được chuẩn theo định mức. Bác sĩ Mai Ngọc Châu, Giám đốc Sở Y tế Tuyên Quang so sánh: Tại những tỉnh có bệnh viện đa khoa trung ương đóng trên địa bàn thì kinh phí vẫn được cấp theo đầu người, nhưng lại được hưởng lợi từ khoản kinh phí hàng chục tỷ đồng cấp cho bệnh viện đó. Như vậy, đã là không "công bằng" giữa người dân các tỉnh, dẫu biết rằng đấy là bệnh viện T.Ư đóng trên địa phương, nhưng số lượng người được khám, chữa bệnh là người địa phương đó chiếm tới 50 - 60%.
Ðối với việc phân bổ ngân sách cho các bệnh viện hiện nay, dù bất kỳ loại bệnh nào, tuyến nào cũng cho rằng nguồn kinh phí phân bổ theo giường bệnh là quá thấp. Ở tuyến huyện là khoảng 14 triệu đồng/giường bệnh/năm, ở tuyến tỉnh là 40 triệu đồng. Kết quả nghiên cứu thực địa tại các bệnh viện cho thấy nguồn kinh phí này chỉ đủ một phần ba nhu cầu, trong đó 90% số tiền cho một giường bệnh là để chi trả lương và các khoản phụ cấp cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên.
Ðổi mới chính sách tài chính y tế
Từ kết quả nghiên cứu lựa chọn chính sách để đổi mới hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển do Bộ Y tế và đại diện WHO tại Hà Nội thực hiện, các nhà nghiên cứu chỉ rõ trong thời gian tới: tăng mức đầu tư cho y tế, nâng cao tỷ trọng các nguồn tài chính công trong tổng chi tiêu y tế quốc gia, trong đó nguồn ngân sách từ ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Ðổi mới phân bổ ngân sách cho các mục tiêu ưu tiên và bảo đảm công bằng hơn giữa các vùng và các nhóm thu nhập; phát triển bảo hiểm y tế; thu hút các nguồn lực ngoài Nhà nước...
Tăng tỷ trọng nguồn tài chính công (bao gồm ngân sách Nhà nước, nguồn vay nước ngoài, bảo hiểm xã hội) trong tổng chi tiêu y tế quốc gia để vượt mức 50% (theo WHO, tỷ trọng nguồn tài chính tư nếu chiếm quá 50% tổng chi tiêu y tế quốc gia thì được coi là tình trạng mất cân bằng của hệ thống y tế).
Tiến sĩ Dương Huy Liệu, Vụ trưởng Kế hoạch - Tài chính (Bộ Y tế) đề xuất tăng chi ngân sách Nhà nước cho y tế, đạt tối thiểu 10% GDP vào năm 2010 và khoảng 13 - 15% vào năm 2020 để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển hệ thống y tế, trước hết là tăng đầu tư cho y tế dự phòng, nâng cấp mạng lưới bệnh viện, hỗ trợ các vùng khó khăn, các đối tượng nghèo và cận nghèo, trẻ em dưới sáu tuổi... Bên cạnh đó, tạo điều kiện để các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển các loại hình dịch vụ y tế đa dạng, phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhân lực y tế, xây dựng một số bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Phát triển nguồn tài chính dựa vào cơ chế trả trước thông qua bảo hiểm y tế (BHYT) xã hội bắt buộc là một lựa chọn chính sách tài chính cơ bản và lâu dài của hệ thống y tế nước ta. Ðây được coi là trung tâm của việc đổi mới hệ thống tài chính y tế theo hướng công bằng, hiệu quả. Vấn đề này cũng đã được đặt ra với lộ trình thực hiện BHYT toàn dân. Nhưng để làm được điều đó cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo mạnh mẽ, cũng như có những chính sách, định hướng cụ thể. Tiếp tục nâng cao hiệu quả phân bổ tài chính y tế, vẫn duy trì việc ưu tiên cho các tỉnh miền núi, hải đảo; đồng thời ưu tiên nguồn lực để củng cố và phát triển hệ thống y tế dự phòng để có đủ năng lực dự báo, giám sát, phát hiện bào khống chế dịch bệnh, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống tai nạn thương tích, các vấn đề về vệ sinh môi trường...
Ðầu tư cho sức khỏe là đầu tư cơ bản, là thành phần quan trọng trong chiến lược tổng thể xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đất nước. Chính sách tài chính là một trong những chính sách quan trọng nhất, quyết định nhất đến toàn bộ công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Vì vậy, vấn đề lựa chọn định hướng chính sách tài chính cho một thời kỳ dài hay từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng.
ÐỊNH MỨC PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CHI SỰ NGHIỆP Y TẾ
Ðơn vị tính: đồng/người dân/năm
| Vùng | Ðịnh mức phân bổ | Vùng | Ðịnh mức phân bổ |
| Ðô thị | 32.180 | Ðô thị | 58.680 |
| Ðồng bằng | 35.400 | Ðồng bằng | 79.280 |
| Núi thấp - vùng sâu | 44.780 | Miền núi-vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu | 101.100 |
| Núi cao-hải đảo | 58.050 | Vùng cao-hải đảo | 140.700 |
| Giai đoạn 2003-2006 | Năm 2007 |