Trước nay vẫn nghĩ tre, trúc cùng họ, đâu cũng sống được cả. Hóa ra, cây trúc chỉ sống được ở vùng núi cao, độ ẩm lớn, lạnh mát quanh năm. Cả nước ta, chỉ có Cao Bằng có nhiều trúc. Các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Cạn, Sơn La, Lào Cai cũng có nhưng không đủ lớn để thành vùng nguyên liệu. Ngay ở Cao Bằng, cây trúc cũng chỉ tập trung tại bốn huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thông Nông và Hòa An; chủ yếu ở vùng đồng bào người Mông, Dao. Từ đời xưa, cây trúc vẫn được người dân sử dụng như tre, nứa. Ðã có thời kỳ, cây trúc cần câu được thu mua, xuất khẩu sang Ðông Âu và Liên Xô (trước đây).
Cuối năm 1994, Xí nghiệp chế biến trúc tre xuất khẩu Cao Bằng được thành lập với nhiệm vụ thu mua trúc, chế biến thành hàng hóa. Trúc Cao Bằng len lỏi về các làng nghề Hà Tây, trở thành đồ mỹ nghệ xuất khẩu. Chiếu trúc của Xí nghiệp xuất khẩu sang Ðài Loan. Các nước phát triển rất ưa chuộng các sản phẩm từ tự nhiên như trúc, mây. Kể từ khi thành lập xí nghiệp, mỗi ha trúc mang lại thu nhập 4-8 triệu đồng/năm cho các hộ. Xã Yên Lạc (huyện Nguyên Bình) chỉ có gần 100 ha vừa ruộng, vừa nương nhưng sống khá sung túc bởi có 300 ha trúc. Cả xã 152 hộ với 1.104 khẩu, hơn 90% đã có nhà lợp ngói.
Chủ tịch HÐND xã Triệu Tạo Phụng khẳng định: - "Nhà nào có trúc là không lo đói"! Một ưu điểm của cây trúc là chỉ mất công trồng, sau đó thu tỉa hằng năm liên tục mà không cần phải đầu tư chăm bón gì. Mỗi năm xí nghiệp chi 4-5 tỷ đồng mua trúc nguyên liệu. Như vậy, mười năm qua người dân vùng trúc đã thu về hơn 40 tỷ đồng. Tháng 2-2004, xí nghiệp được cổ phần hóa thành Công ty chế biến trúc tre xuất khẩu Cao Bằng. Giám đốc Công ty Bế Văn Phán cho biết: Sản phẩm trúc Cao Bằng đặc biệt "ăn khách". Vùng nguyên liệu gần 1.000 ha hiện nay chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu của thị trường.
Thấy rõ lợi thế của cây trúc, từ năm 2002 tỉnh Cao Bằng đầu tư mở rộng vùng trúc nguyên liệu. Mỗi hốc trúc trồng mới được hỗ trợ 3.120 đồng. Chỉ sau hai năm đã có hơn 500 ha trúc được trồng mới. Khi kết thúc dự án, Cao Bằng sẽ có thêm hơn 3.000 ha trúc. Và cũng có thêm hàng nghìn gia đình đồng bào dân tộc Mông, Dao vùng sâu có cơ hội thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Một loại cây trở thành sản phẩm hàng hóa thành công bậc nhất là cây chè đắng. Từ đời xưa, cây chè đắng được coi là một loại dược liệu quý để cống vua, chúa và chữa bệnh trong dân gian. Qua phân tích thành phần hóa dược cho thấy chè đắng có tới 16 loại a-xít a-min có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất, chữa cảm nắng, tiêu viêm, giải độc, chống lão hóa , giảm huyết áp, tăng cường miễn dịch và chống ung thư... Trên thế giới có tới 40 loại chè đắng, trong đó chè đắng Cao Bằng là tốt nhất.
Trước đây, chè đắng được dùng ở Cao Bằng để nấu uống thay chè. Vì không rõ giá trị của chè đắng, nhiều khi người ta chặt hạ cả cây to cỡ người ôm để hái lá, búp. Năm 1998, Sở Khoa học - Công nghệ Cao Bằng phối hợp Viện Dược liệu Việt Nam nghiên cứu khẳng định giá trị của cây chè đắng. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, năm 2003, Công ty chè đắng Cao Bằng được thành lập. Dù mới thành lập, cơ sở vật chất còn nghèo nàn nhưng sản phẩm chè đắng của công ty đã liên tiếp giành năm giải thưởng qua các kỳ bình chọn, hội chợ triển lãm, mà mới đây là giải thưởng Sao vàng Ðất Việt năm 2004. Thương hiệu chè đắng Cao Bằng được nhanh chóng đón nhận trên thị trường.
Khi mới bắt đầu dự án, Cao Bằng chỉ có khoảng 20 ha chè đắng. Năm 2003, đã có 136 ha chè đắng được trồng mới tại các huyện Thạch An, Hạ Long, Hòa An. Năm 2004, đã có 250 ha chè đắng được trồng mới trên kế hoạch 330 ha. Tỉnh Cao Bằng hỗ trợ các hộ dân 65% kinh phí đầu tư. 35% do các hộ dân đầu tư được công ty chè đắng cho dân vay nợ trừ dần vào sản phẩm khi thu hoạch. Như vậy, người dân chỉ cần đất là có thể tham gia trồng chè. Cây chè đắng trồng bằng phương pháp giâm hom cành chỉ sau ba năm là bắt đầu cho thu hoạch.
Dự kiến, đến năm 2005 Cao Bằng sẽ có gần 1.000 ha chè đắng. Phó Giám đốc Công ty chè đắng Nông Ðình Dũng cho biết: Mỗi ha chè cho 5-6 nghìn kg lá mỗi năm; một kg chè lá tươi được thu mua với giá 7.000 đồng. Tính ra mỗi ha chè đắng cho thu nhập 35-40 triệu đồng/năm.
Cũng là một đặc sản nổi tiếng của Cao Bằng nhưng hạt dẻ Trùng Khánh chủ yếu được biết tới qua sách báo. Nguyên nhân là hạt dẻ Trùng Khánh có hàm lượng protein, chất béo, tinh bột cao nên dễ tự hư hỏng, thối, mốc. Hạt dẻ tươi bị giảm phẩm cấp nhanh trong quá trình vận chuyển, tiêu thụ. Mới đây, Sở Khoa học - Công nghệ Cao Bằng phối hợp Viện Cơ điện Nông nghiệp nghiên cứu chế tạo công nghệ và thiết bị để bảo quản và chế biến hạt dẻ. Theo đó, hạt dẻ sẽ được đóng hộp hoặc sấy khô, cho phép kéo dài thời gian bảo quản từ sáu tháng tới hai năm mà vẫn giữ nguyên mùi vị, chất lượng. Khi bắt đầu dự án, Cao Bằng có hơn 1.000 ha cây dẻ, chủ yếu tập trung tại huyện Trùng Khánh. Dự kiến, đến năm 2005 Cao Bằng sẽ trồng mới 2.000 ha. Ước tính, một ha dẻ cho thu hoạch mỗi năm 20-30 triệu đồng.
Ðược nghiên cứu đồng thời với hạt dẻ Trùng Khánh là một loại cây độc đáo của Cao Bằng: cây mác mật, một loại cây họ hồng bì. Những ai đã từng lên Lạng Sơn, Cao Bằng hẳn đã biết đến món thịt quay nổi tiếng thơm ngon. Hương vị độc đáo của món thịt quay có được chính là nhờ mác mật. Gà, lợn quay ở Cao Bằng, Lạng Sơn đều được nhồi lá, quả mác mật vào bụng để tạo hương vị. Thậm chí, miếng thịt cuốn lá mác mật, nướng lên cũng thơm ngon lạ lùng, gọi là chả mác mật. Ở Cao Bằng, cây mác mật được trồng phân tán ở một số huyện như Hạ Long, Quảng Hòa, Thạch An... có diện tích khoảng 100 ha. Cũng như hạt dẻ Trùng Khánh, loại gia vị đặc hữu này rất khó bảo quản, vận chuyển. Sở Khoa học - Công nghệ đã hoàn thiện dây chuyền chế biến, bảo quản mác mật dưới các dạng: đóng lọ, sấy khô nguyên quả, bột đóng túi và tương mác mật đóng hộp nhựa. Sản phẩm đã được bán thử rộng rãi tại một số kỳ hội chợ, được người tiêu dùng thích thú. Ðến năm 2010, diện tích mác mật ở Cao Bằng sẽ được nâng lên 200 ha, cho thu nhập mỗi ha hàng chục triệu đồng/năm.
Cùng với các loại cây đặc sản, Cao Bằng đang xúc tiến thử nghiệm phát triển các giống cá quý đặc sản như cá anh vũ, cá chiên ở thượng nguồn các sông, suối vùng sâu. Với chính sách hỗ trợ có định hướng, Cao Bằng đã tạo sức bật cho các loại cây, hoa quả trở thành hàng hóa có sức vươn xa, mở hướng làm giàu cho hàng chục nghìn hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.