- Xin ông cho biết những thành tựu của hoạt động phòng, chống thiếu vi chất dinh dưỡng, một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001-2010 ở Việt Nam trong những năm qua?
- Từ đầu những năm 70, Việt Nam đã triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh bướu cổ. Từ 1995, chiến lược toàn dân dùng muối i-ốt đã được Chính phủ cho phép áp dụng và Bộ Y tế trực tiếp chỉ đạo chương trình này. Năm 1999, Chính phủ ra Nghị định về việc i-ốt hóa tất cả các loại muối. Hiện nay, độ bao phủ muối i-ốt từ 60 đến 80% số hộ gia đình. Công tác giám sát được đẩy mạnh, tỷ lệ bướu cổ và mức i-ốt niệu thấp đã giảm đi có ý nghĩa. Cùng với phòng, chống thiếu i-ốt, phòng chống thiếu vi-ta-min A cũng thu được những thành tựu đáng phấn khởi. Từ năm 1993, Việt Nam thực hiện chiến lược bổ sung vi-ta-min A liều cao kết hợp giáo dục dinh dưỡng và tăng cường hệ sinh thái VAC tạo nguồn thực phẩm tại chỗ. Cuộc đánh giá quốc tế được tiến hành trên quy mô toàn quốc cho thấy bệnh khô mắt gây mù lòa do thiếu vi-ta-min A ở Việt Nam giảm hẳn theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới. Trong khi đó, Chương trình phòng, chống thiếu máu dinh dưỡng đi sau, và triển khai một cách có hệ thống từ năm 1996 với việc bắt đầu bằng việc bổ sung viên sắt/axiy folic cho phụ nữ có thai tại một số địa bàn và mở rộng dần. Mặc dù đạt được nhiều kết quả, song chặng đường đi tới mục tiêu vào 2010 đang gặp nhiều thách thức. Hiện nay vẫn còn hơn 30% số phụ nữ tuổi sinh đẻ và 35-40% số phụ nữ có thai bị thiếu máu dinh dưỡng. Theo tài liệu vừa công bố của LHQ, ước tính hằng năm ở Việt Nam vẫn còn hàng trăm bà mẹ trẻ bị tử vong do sinh đẻ liên quan tới thiếu máu, 6.000 trẻ có nguy cơ tử vong cao trong giai đoạn ngay trước và sau đẻ do bà mẹ bị thiếu máu nặng và khoảng 3.000 trẻ đẻ ra bị dị dạng do thiếu folat. Thiếu vi-ta-min A tiền lâm sàng (vi-ta-min A huyết thanh thấp) còn cao và hơn 30% số bà mẹ cho con bú bị thiếu vi-ta-min A. Ước tính hằng năm có khoảng hai nghìn trẻ tử vong vì giảm khả năng chống đỡ nhiễm khuẩn do thiếu vi-ta-min A. Ngoài ra, còn 10% tổng số trẻ em dưới năm tuổi bị giảm miễn dịch và tăng trưởng kém do thiếu vi-ta-min A. Mặt khác, thách thức để duy trì mức bao phủ i-ốt, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền trung rất lớn. Cũng theo công bố trên, ước tính khoảng 240 nghìn trẻ sinh ra hằng năm bị giảm trí lực do thiếu i-ốt. Rõ ràng, dù có những thành tựu vượt bậc, thiếu vi-ta-min A, thiếu i-ốt; nhất là thiếu máu, thiếu sắt vẫn còn là một gánh nặng sức khỏe ở Việt Nam.
- Cùng với thiếu vi chất dinh dưỡng thì ở các đô thị xuất hiện bệnh thừa cân, béo phì. Cụ thể thực trạng thừa cân, béo phì như thế nào, nó đã thật sự cần gióng lên hồi chuông cảnh báo chưa?
- Ở Việt Nam, trước năm 1995, hầu như không có thừa cân và béo phì. Hiện nay, tại nội thành TP Hồ Chí Minh khoảng 15-20%. Vào năm 2000, điều tra tại các thành phố lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng) cho thấy trẻ béo phì chiếm hơn 10% số trẻ từ 7-11 tuổi. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở người lớn, nhất là lứa tuổi lao động (35-45) ở khu vực đô thị cũng tăng lên rõ rệt. Nguyên nhân do những thay đổi về cách ăn uống: ăn uống quá mức, ăn nhiều đường, chất béo, thức ăn chế sẵn, uống bia, rượu nhiều hơn. Hoạt động thể lực của người đô thị cũng có những thay đổi. Nếu hơn mười năm trước ở thành phố, xe đạp còn là phương tiện đi lại chính thì nay đã được thay thế bằng xe máy hoặc ô-tô. Công nghệ và máy móc làm thay đổi về tiêu hao năng lượng trong lao động.Thừa cân tuy là "tiền béo phì" nhưng với người Việt Nam rất quan trọng vì khi thừa cân thường mỡ hay tích ở bụng, dễ gây béo bụng (chú ý: cùng chỉ số BMI thì tỷ lệ béo bụng của người Việt Nam cao hơn người Nhật Bản). Béo bụng có nguy cơ cao bị mắc đái tháo đường typ 2, tăng huyết áp và bệnh tim mạch. Béo phì còn làm tăng nguy cơ một số loại ung thư. Tóm lại, thừa cân cũng là “cửa ngõ” cho các bệnh mạn tính ùa vào. Vì vậy, cảnh báo thừa cân béo phì bây giờ là hoàn toàn không sớm.
- Như vậy, cùng một lúc chúng ta phải chịu "gánh nặng kép" của cả hai vấn đề này. Ðể giải quyết gánh nặng đó, cần tập trung vào những hoạt động nào?
- Ðể giải quyết gánh nặng đó, chúng ta cần tập trung vào những việc sau: Tiếp tục phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em một cách bền vững, đặc biệt những nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao (khu vực nông thôn và vùng khó khăn). Nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ em và cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người phụ nữ trước và trong thời gian mang thai.
- Duy trì và phấn đấu giải quyết thiếu i-ốt, thiếu vi-ta-min A và từng bước kiểm soát bệnh thiếu máu dinh dưỡng. Thực hiện phối hợp đa đối tác trong phòng, chống thiếu vi chất dinh dưỡng (Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học).
- Tuyên truyền, thông tin cho đại chúng về nguy cơ của béo phì, thừa cân và các bệnh mạn tính liên quan chế độ dinh dưỡng và lối sống. Hoạt động trọng tâm ở đây là phổ biến những lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cùng với việc xây dựng một hệ thống nhằm giám sát chặt chẽ, theo dõi xu hướng thừa cân, béo phì và các bệnh mạn tính có liên quan đến dinh dưỡng như đái tháo đường typ 2, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, v.v...